Thời gian gần đây, nhiều cây đại thụ trong giới văn chương Việt Nam đã ra đi, để lại niềm tiếc thương vô hạn đối với bạn đọc. Với nhà văn Sơn Tùng, nhiều người biết đến ông không chỉ ở tên tuổi các tác phẩm mà bằng cả sự kính trọng Ông về lối sống, về đạo của một người cầm bút, nghiêm túc và nghiêm...
 
Nhà văn Sơn Tùng
 
Tiễn đưa Nhà văn Sơn Tùng về cõi Người Hiền, với sự kính trọng vô hạn, trang điện tử tổng hợp của Tạp chí Người Xây dựng xin trích đăng bài điếu văn tiễn biệt ông do nhà văn Nguyễn Quang Thiều - Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam viết và đọc tại Lễ tang sáng ngày 26/7/2021.   
 
"Có những nhà văn khi rời khỏi đời sống này đã để lại hai cuốn sách lớn: Cuộc đời và tác phẩm. Nhà văn Sơn Tùng là một nhà văn như vậy. Ông đã để lại cho đời sống này những sáng tác đặc biệt của ông và cuộc đời lớn của ông.
 
Nhà văn Sơn Tùng bước vào cuộc đời như một người lính. Ông đã tham gia trực tiếp vào cuộc chiến tranh tàn khốc nhất trong thế kỷ 20 cho độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Có thể nói, chiến tranh đã tàn phá thân thể ông. Nếu không có một khát vọng lớn lao, một nghị lực phi thường, thì những di họa chiến tranh đã xóa tên ông trong đời sống này cho dù ông vẫn sống. Nhưng ông đã đứng dậy, đã cầm bút và đã minh chứng một cách kỳ diệu sức mạnh vô bờ của khát vọng làm người chân chính.
 
Ông đã sống hơn 90 năm trong cõi đời này. Đấy không phải là tuổi thọ của ông. Đấy chính là khát vọng sống đẹp đẽ của ông và ý chí phi thường của ông cho khát vọng ấy. Cho dù sống trong sự đau đớn của thương tật, nhưng bạn đọc không hề tìm thấy sự mệt mỏi và yếu đuối của ông trong từng trang viết. Trái lại, trong mỗi trang viết của ông, con người đã tìm thấy sự chia sẻ sâu sắc, tình yêu thương rộng lớn và lòng quả cảm vượt qua nhiều giới hạn. Ông là một nhà văn hay nói đúng hơn là một con người chối từ mọi quyền lợi vật chất cho cá nhân mình để đòi hỏi sự công bằng, bác ái cho con người.
 
Trong một thời đại mà con người đang đứng trước bao thách thức, đặc biệt là những thách thức từ một đời sống ngập tràn sự hưởng thụ ích kỷ, sự vô cảm và phi nhân tính, thì con người nhà văn Sơn Tùng là một giá trị tựa một báu vật còn sót lại. Trong giờ phút này, chúng ta thường nghĩ tới sự ra đi của một con người. Và tôi nhận thấy: Có những người đã ra đi ngay khi họ vẫn đang tồn tại như một thể thức sống giữa chúng ta. Nhưng có những con người ra đi nhưng lại tồn tại mãi trong đời sống chúng ta như một niềm kiêu hãnh. Sự ra đi của nhà văn Sơn Tùng đã làm cho sự ở lại của tinh thần ông trong đời sống này ý nghĩa hơn, cần thiết hơn và dài lâu hơn.
 
Trước linh cữu của ông trong giờ phút này, Ban Chấp hành cùng các hội viên Hội Nhà văn Việt Nam biết ơn đối với những tác phẩm của ông và biết ơn một cuộc đời đẹp đẽ và lớn lao mà ông đã sống.
 
Xin cúi đầu tiễn biệt ông”.
 
Nhà văn Sơn Tùng (họ và tên đầy đủ là Bùi Sơn Tùng), sinh ngày mồng 8 tháng 8 năm 1928, tại làng Hoa Lũy, xã Diễn Kim, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An trong một gia đình nhà Nho có truyền thống yêu nước, cách mạng. Cha ông làm Bí thư chi bộ đầu tiên của xã từ năm 1930, mẹ ông vừa nuôi giấu cán bộ của Đảng, vừa giáo dục các con lòng yêu nước, thương nòi, căm thù quân xâm lược. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, gia đình ấy có bảy người con đều là đảng viên cộng sản, trong đó có một liệt sỹ và ông - một thương binh đặc biệt 1/4.
 
Ngay từ năm 1944, mới 16 tuổi, Sơn Tùng được giao làm giao thông bí mật cho Việt Minh. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Sơn Tùng làm Bí thư chi đoàn Thanh niên Cứu quốc của xã, năm sau làm Ủy viên Thanh niên Cứu quốc của huyện. Năm 1948, tròn hai mươi tuổi, Sơn Tùng vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng. Ông tiếp tục tham gia cách mạng ở các cương vị khác nhau ở Nghệ An cho đến cuối năm 1954 được cử ra Hà Nội học tại đại học. Tháng 6 đến tháng 11 năm 1955, ông được cử làm Phó Trưởng đoàn Đoàn đại biểu thanh niên, sinh viên Việt Nam tham dự Đại hội Thanh niên, Sinh viên thế giới lần thứ V tại Ba Lan và được ghé thăm Liên Xô, Trung Quốc. Tốt nghiệp đại học, ông được điều về Phú Thọ rồi về lại Hà Nội làm giảng viên khoa Báo chí, trường Tuyên giáo Trung ương.
 
Chặng đường tiếp theo, ông là phóng viên Báo Nông nghiệp, báo Tiền Phong, vào tuyến lửa khu Bốn thường trú để viết báo. Trước cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Sơn Tùng cùng đồng chí, đồng nghiệp vượt Trường Sơn vào chiến trường B2, miền Đông Nam bộ để thành lập Báo Thanh niên Giải phóng và phụ trách báo này. Ngày 15 tháng 4 năm 1971, trong một trận càn của Mỹ ngụy vào căn cứ của đơn vị, ông bị thương nặng liệt tay phải, vỡ xương vai và xương tay trái, ba mảnh đạn găm vào sọ não không thể mổ để lấy ra, mắt phải bị trọng thương thị lực chỉ còn 1/10. Bằng nhiều phương tiện vận chuyển, qua nhiều cung đường, dưới mưa bom bão đạn, ông được đưa ra miền Bắc để cứu chữa. Cuối năm 1979, ông nghỉ hưu với Thẻ thương binh xếp loại thương tật cao nhất là 1/4, mất 81% sức khỏe.
 
Cả cuộc đời lao động, chiến đấu và sáng tạo văn nghệ, báo chí của mình, nhà văn Sơn Tùng dành nhiều công sức, tài năng và tâm huyết cho đề tài Hồ Chí Minh, xây dựng và lan tỏa hình tượng Hồ Chí Minh cả trong và ngoài nước. Ông viết về Bác Hồ với mấy tư cách, mấy giác độ: Nhà nghiên cứu lịch sử; Nhà nghiên cứu văn hóa; Nhà văn - người cộng sản; Một thương binh đặc biệt, lao động trong một hoàn cảnh đặc biệt. Hồ Chí Minh trong tác phẩm của ông ở các thời kỳ thơ ấu, sống ở quê, đậm đà bản sắc văn hóa xứ Nghệ; thời kỳ trưởng thành ở kinh đô Huế, Bình Định, Bình Thuận, Sài Gòn; thời kỳ Người bôn ba bốn biển năm châu tìm đường cứu nước, cứu dân; thời kỳ Người là lãnh tụ yêu kính, giản dị của Đảng, của dân tộc; Người là kết tinh văn hóa Việt Nam và tinh hoa văn hóa thế giới, một người hiền của nhân loại.
 
Nhfa văn Sơn Tùng để lại một di sản văn chương đồ sộ đáng tự hào với hàng chục tác phẩm, trong đó có 21 tác phẩm tiêu biểu. Tiểu thuyết “Búp sen xanh” là tác phẩm tiêu biểu nhất, thành công nhất. Đến nay, “Búp sen xanh” đã được tái bản và nối bản 30 lần, được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Bên cạnh đó là các tác phẩm “Bông sen vàng”, “Sáng ánh tâm đăng Hồ Chí Minh”, “Bác về”, “Từ làng Sen”, “Bác Hồ cầu hiền tài”, “Hoa râm bụt”, “Bác ở nơi đây”, “Bên khung cửa sổ”, “Nhớ nguồn”, “Kỷ niệm tháng Năm”, “Con người và con đường”, “Trần Phú”, “Nguyễn Hữu Tiến”, “Vườn nắng”, “Trái tim quả đất”, “Mẹ về”, “Lõm”, kịch bản điện ảnh “Cuộc chia ly trên bến Nhà Rồng”, xấp xỉ một trăm bài thơ, trong đó, bài thơ “Gửi em chiếc nón bài thơ” được phổ nhạc và sống mãi cùng năm tháng… Hai năm 2019, 2020, nhà xuất bản Văn học giới thiệu “Tuyển tập truyện và ký về Hồ Chí Minh” (quyển 1, quyển 2) của Sơn Tùng, là hai tác phẩm quý sau cùng của ông. 
 
Sinh thời, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói về nhà văn Sơn Tùng: “Đó là một con người có trí mệnh… Một con người có chí hướng cách mạng, là một đảng viên trung kiên… Anh là một học trò xứng đáng của Chủ tịch Hồ Chí Minh… Còn đối với riêng tôi, anh là một người bạn chí thiết”. Học giả Phan Ngọc viết về ông: “Sơn Tùng là nhà văn theo kiểu riêng. Loại nhà văn nghệ sỹ và nhà nghiên cứu không xem công việc của mình là một cái nghề qua đó người ta kiếm sống, giàu có và nổi danh. Đây chẳng qua là tiếp tục con đường cách mạng mà cả dân tộc đã dấn thân vào và hàng triệu người đã ngã xuống”.
 
N.X.D
PV (Người Xây Dựng)