Hệ thống thông tin, CSDL quốc gia về hoạt động xây dựng: Bước đi quan trọng trong quản lý số hóa toàn ngành

07:39 | 17/03/2026
(NXD) - Việc xây dựng Hệ thống thông tin và Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng được đề xuất trong dự thảo Nghị định là một bước đi có ý nghĩa quan trọng, đánh dấu nỗ lực của Nhà nước trong việc số hóa nền tảng quản lý của toàn ngành.

 

CSDL quốc gia về hoạt động xây dựng nhằm phục vụ các ngành kinh tế và phục vụ lợi ích công cộng. Ảnh internet.

Trong nhiều thập kỷ, quản lý xây dựng tại Việt Nam chủ yếu dựa trên hồ sơ giấy, quy trình hành chính phân tán và hệ thống thông tin rời rạc giữa các cơ quan. Dữ liệu về quy hoạch, dự án, công trình, vật liệu, năng lực nhà thầu hay chi phí xây dựng tồn tại ở nhiều nơi khác nhau, thiếu chuẩn hóa và thiếu khả năng kết nối. Điều này không chỉ làm giảm hiệu quả quản lý Nhà nước mà còn khiến thị trường xây dựng thiếu minh bạch, thiếu dữ liệu đáng tin cậy cho các quyết định đầu tư, thiết kế và quản trị dự án. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng Hệ thống thông tin và Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng được đề xuất trong dự thảo Nghị định là một bước đi có ý nghĩa quan trọng, đánh dấu nỗ lực của Nhà nước trong việc số hóa nền tảng quản lý của toàn ngành.

Theo nội dung dự thảo, Nghị định tập trung vào hai nhóm vấn đề chính. Thứ nhất là quy định về điều kiện năng lực hoạt động xây dựng của cá nhân và tổ chức, bao gồm các quy định về chứng chỉ hành nghề, quản lý năng lực chuyên môn, cũng như việc công khai thông tin năng lực trên hệ thống dữ liệu quốc gia. Thứ hai là xây dựng và vận hành Hệ thống thông tin và Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng, bao gồm nhiều nhóm dữ liệu quan trọng như dữ liệu quy hoạch đô thị và nông thôn, dữ liệu dự án đầu tư xây dựng, dữ liệu công trình xây dựng, dữ liệu định mức và giá xây dựng, dữ liệu vật liệu xây dựng, dữ liệu tiêu chuẩn – quy chuẩn kỹ thuật và dữ liệu năng lực hành nghề của cá nhân. Các đối tượng dữ liệu này được quản lý thông qua hệ thống mã định danh duy nhất, nhằm bảo đảm sự thống nhất và khả năng truy vết trong toàn bộ hệ thống quản lý xây dựng.

Có thể nói, việc xây dựng một hệ thống dữ liệu thống nhất cho toàn ngành xây dựng là một bước tiến lớn. Trong nhiều năm qua, thiếu dữ liệu là một trong những điểm yếu cơ bản của quản lý xây dựng tại Việt Nam. Quy hoạch đô thị được phê duyệt nhưng khó tiếp cận; Dữ liệu dự án đầu tư xây dựng không được cập nhật đầy đủ; Giá vật liệu xây dựng thay đổi liên tục nhưng thiếu hệ thống thống kê minh bạch; Năng lực của tổ chức và cá nhân hành nghề xây dựng không được công khai đầy đủ. Những hạn chế này không chỉ làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước mà còn khiến thị trường xây dựng thiếu thông tin, làm tăng rủi ro cho cả khu vực công và khu vực tư. Việc hình thành một cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng, nếu được triển khai đúng cách, có thể giúp khắc phục nhiều hạn chế tồn tại trong nhiều năm qua.

Tuy nhiên, khi phân tích sâu hơn nội dung của dự thảo, có thể thấy rằng hệ thống dữ liệu được đề xuất vẫn chủ yếu được thiết kế theo logic của quản lý hành chính truyền thống, trong đó trọng tâm là thu thập và lưu trữ dữ liệu phục vụ các thủ tục quản lý nhà nước. Dự thảo dành nhiều dung lượng để quy định về quy trình nhập dữ liệu, trách nhiệm cập nhật dữ liệu và việc chuẩn hóa dữ liệu trong các thủ tục hành chính. Trong khi đó, các vấn đề quan trọng như kiến trúc dữ liệu tổng thể, chuẩn dữ liệu liên thông, mô hình dữ liệu mở hay khả năng khai thác dữ liệu cho phân tích và ra quyết định lại chưa được làm rõ. Điều này đặt ra một câu hỏi quan trọng: Hệ thống dữ liệu được xây dựng nhằm mục tiêu gì? Nếu mục tiêu chỉ là số hóa hồ sơ hành chính thì hệ thống hiện tại có thể đáp ứng yêu cầu. Nhưng nếu mục tiêu là xây dựng hạ tầng dữ liệu cho chuyển đổi số ngành xây dựng thì cách tiếp cận hiện nay vẫn chưa đủ.

Một hệ thống dữ liệu quốc gia hiện đại không chỉ là nơi lưu trữ thông tin mà còn là nền tảng để phân tích, dự báo và hỗ trợ ra quyết định. Trong nhiều quốc gia phát triển, dữ liệu ngành xây dựng được thiết kế theo mô hình “chuỗi dữ liệu vòng đời công trình”.

ThS. Lê Tùng Lâm - Ủy viên Đoàn Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam, Trưởng Ban Đô thị – HĐND TP Đà Nẵng

Từ quy hoạch, chủ trương đầu tư, thiết kế, cấp phép, thi công, nghiệm thu cho đến vận hành và bảo trì công trình, toàn bộ thông tin đều được kết nối thông qua một hệ thống dữ liệu thống nhất. Điều này giúp cơ quan quản lý có thể theo dõi toàn bộ vòng đời của một công trình, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư tiếp cận dữ liệu cần thiết để đưa ra các quyết định kinh doanh. Trong khi đó, dự thảo Nghị định hiện nay mặc dù đã đề cập đến mã định danh cho dự án và công trình, nhưng chưa làm rõ cơ chế kết nối dữ liệu giữa các giai đoạn khác nhau của vòng đời công trình. Nếu không có thiết kế rõ ràng cho chuỗi dữ liệu này, hệ thống dữ liệu rất dễ trở thành một tập hợp các cơ sở dữ liệu rời rạc, mỗi cơ sở dữ liệu phục vụ một nhóm thủ tục hành chính khác nhau.

Một vấn đề quan trọng khác là mối quan hệ giữa hệ thống dữ liệu quốc gia và công nghệ BIM. Trong nhiều quốc gia, BIM đã trở thành nền tảng quản lý thông tin công trình, cho phép tích hợp dữ liệu thiết kế, thi công và vận hành vào một mô hình thông tin thống nhất. Nếu hệ thống dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng không được thiết kế để tiếp nhận và khai thác dữ liệu BIM, thì hệ thống này sẽ chủ yếu phản ánh thông tin hành chính của dự án, trong khi dữ liệu kỹ thuật của công trình lại nằm ngoài hệ thống. Điều này có thể làm giảm đáng kể giá trị của hệ thống dữ liệu trong dài hạn. Trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy triển khai BIM trong các dự án xây dựng, việc tích hợp dữ liệu BIM vào hệ thống dữ liệu quốc gia cần được xem như một yêu cầu quan trọng trong thiết kế hệ thống.

Bên cạnh đó, chính sách dữ liệu mở trong dự thảo Nghị định vẫn còn khá mơ hồ. Dự thảo có đề cập đến việc công bố một số dữ liệu mở, nhưng chưa xác định rõ những nhóm dữ liệu nào phải được công khai và cơ chế khai thác dữ liệu ra sao. Trong khi đó, dữ liệu mở đang trở thành một yếu tố quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế số. Nếu các dữ liệu cơ bản như thông tin quy hoạch, trạng thái pháp lý của dự án, danh mục công trình hay giá vật liệu xây dựng được công khai một cách có kiểm soát, thị trường xây dựng sẽ trở nên minh bạch hơn, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển các dịch vụ số dựa trên dữ liệu. Việc thiếu một chính sách dữ liệu mở rõ ràng có thể làm hạn chế đáng kể tiềm năng của hệ thống dữ liệu quốc gia.

Một điểm đáng lưu ý khác là nguy cơ gia tăng gánh nặng thủ tục cho doanh nghiệp. Dự thảo quy định rằng nhiều thủ tục hành chính chỉ có thể được thực hiện sau khi dữ liệu dự án hoặc công trình được nhập và chuẩn hóa trên hệ thống dữ liệu quốc gia. Về nguyên tắc, điều này có thể giúp bảo đảm tính đầy đủ của dữ liệu. Tuy nhiên, nếu hệ thống được thiết kế không hợp lý, doanh nghiệp có thể phải thực hiện thêm nhiều bước nhập dữ liệu mới, trong khi các cơ quan nhà nước vẫn yêu cầu cung cấp các hồ sơ tương tự trong các thủ tục khác. Khi đó, thay vì giảm thủ tục hành chính, hệ thống dữ liệu có thể vô tình tạo ra một tầng thủ tục số mới. Vì vậy, nguyên tắc quan trọng cần được bảo đảm là dữ liệu chỉ cần nhập một lần và được chia sẻ giữa các cơ quan nhà nước thông qua các nền tảng kết nối dữ liệu.

Ngoài ra, vấn đề quản trị chất lượng dữ liệu cũng cần được chú trọng hơn. Trong một hệ thống dữ liệu quy mô quốc gia, rủi ro lớn nhất không phải là thiếu dữ liệu mà là dữ liệu sai hoặc dữ liệu không đồng nhất. Nếu dữ liệu được nhập từ nhiều nguồn khác nhau mà không có cơ chế kiểm tra và đối soát, hệ thống rất dễ xuất hiện các thông tin mâu thuẫn hoặc lỗi thời. Do đó, bên cạnh việc quy định trách nhiệm cập nhật dữ liệu, nghị định cần bổ sung các cơ chế kiểm toán dữ liệu, kiểm soát phiên bản dữ liệu và đối soát dữ liệu giữa các hệ thống khác nhau.

Một hệ thống dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng cũng không thể tồn tại như một “ốc đảo dữ liệu”. Nó cần được thiết kế để kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia khác, bao gồm cơ sở dữ liệu đất đai, cơ sở dữ liệu doanh nghiệp, hệ thống đầu tư công, hệ thống đấu thầu, dữ liệu môi trường và dữ liệu dân cư. Chỉ khi có sự liên thông dữ liệu giữa các hệ thống này, dữ liệu ngành xây dựng mới có thể phản ánh đầy đủ bức tranh của hoạt động đầu tư và phát triển đô thị.

Nhìn tổng thể, dự thảo Nghị định về Hệ thống thông tin và Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng là một bước đi đúng hướng trong quá trình chuyển đổi số ngành xây dựng. Tuy nhiên, để hệ thống này thực sự trở thành hạ tầng dữ liệu chiến lược của ngành, cần có một cách tiếp cận toàn diện hơn, trong đó dữ liệu không chỉ phục vụ quản lý hành chính mà còn trở thành nền tảng cho phân tích, dự báo và đổi mới sáng tạo. Việc hoàn thiện nghị định theo hướng xây dựng kiến trúc dữ liệu rõ ràng, tích hợp công nghệ BIM, mở rộng chính sách dữ liệu mở, tăng cường quản trị chất lượng dữ liệu và bảo đảm liên thông dữ liệu liên ngành sẽ giúp hệ thống dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng trở thành một nền tảng quan trọng cho quản trị đô thị hiện đại và phát triển bền vững của ngành xây dựng Việt Nam trong nhiều thập kỷ tới.

 

ThS. Lê Tùng Lâm

 

Tin cùng chuyên mục

(NXD) - Với việc ban hành Nghị quyết số 66.15/2026/NQ-CP, Chính phủ đã chính thức thiết lập các cơ chế đặc thù nhằm xử lý triệt để những vướng mắc về quy hoạc...
13:46 | 02/03/2026
(NXD) - Kết luận Thanh tra Chính phủ khẳng định, TPBank đã không thực hiện theo đúng cam kết bố trí vốn cho Nhà đầu tư và không thực hiện ý kiến chỉ đạo của T...
09:37 | 08/02/2026
(NXD) - Thanh tra Ủy ban Chứng khoán Nhà nước vừa ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán đối với ...
07:09 | 04/02/2026
(NXD) - Thanh tra Chính phủ kết luận, Ngân hàng TP Bank đã không thực hiện theo đúng cam kết bố trí vốn cho nhà đầu tư và, ảnh hưởng rất lớn đến việc triển kh...
10:55 | 09/01/2026
(NXD) - Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành quy định mới nhằm hoàn thiện đồng bộ cơ chế quản lý chi phí, định mức và dữ liệu đầu tư xây dựng, tập trung công bố giá...
08:53 | 05/01/2026
(NXD) - Bộ Xây dựng đã chính thức có văn bản phúc đáp kiến nghị của cử tri TP Hải Phòng, làm rõ phương pháp tính toán và thời điểm xác định nghĩa vụ tài chính...
05:47 | 07/12/2025
(NXD) - Thuế TP.HCM vừa công bố danh sách 31.655 người nộp thuế còn nợ tiền thuế (tính đến thời điểm tháng 9/2025) và các khoản thu khác lên đến hơn 25 ngàn t...
08:50 | 28/11/2025
(NXD) - Thuế TP.HCM vừa công bố danh sách 31.655 người nộp thuế còn nợ tiền thuế (tính đến thời điểm tháng 9/2025) và các khoản thu khác lên đến hơn 25 ngàn t...
08:47 | 28/11/2025
(NXD) - Tại Phiên họp thứ 51, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng, Tờ trình của Chính phủ về xử lý 4.390 tỷ đồng vốn vay ODA đã giải ngân từ năm 2019, nhưng ch...
09:07 | 19/11/2025
(NXD) - Cứ mỗi lần có thông tin xã này, phường kia 100% hồ sơ nộp và cấp GPXD đều thông qua hình thức trực tuyến là một tin vui, bởi đó là nhữ...
09:43 | 14/11/2025


TẠP CHÍ NGƯỜI XÂY DỰNG
Cơ quan chủ quản: Tổng hội Xây dựng Việt Nam
Tổng biên tập: Hoàng Chiến Thắng

- Trụ sở: Số 625 đường La Thành, Phường Giảng Võ, TP Hà Nội
- Văn phòng giao dịch: Tầng 3, Tòa nhà Vilco, số 3 ngõ 70 đường Nguyễn Hoàng, Phường Từ Liêm, TP Hà Nội
- Văn phòng đại diện phía Nam: Số 37 Lê Quốc Hưng, Phường Xóm Chiếu, TP. HCM
- Chi nhánh tại miền Trung - Tây Nguyên: Số 48 Cao Thắng, phường Hải Châu, TP Đà Nẵng.
- Giấy phép xuất bản báo chí in: Số 607/GP-BTTTT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp đổi ngày 30/12/2022
   Mã số ISSN (International Standard Serial Number): 80668531.
- Giấy phép trang TTĐT tổng hợp: Số 112/GP-TTĐT do Cục Phát thanh truyền hình và thông tin điện tử (Bộ Thông tin và Truyền thông) cấp ngày 08/07/2020
Trưởng ban Thư ký tòa soạn: Hoàng Văn Lực
Phone: 0243 831 4740 - Hotline: 098 2711195
Email: nguoixaydung1986@gmail.com

Báo giá quảng cáo | Hợp đồng quảng cáo

© All rights reserved - Bản quyền thuộc về Tạp chí Người Xây Dựng
icon up