(NXD) -
Ngày nay, kỹ thuật số đã trở thành công cụ hữu hiệu để phục vụ tất cả các ngành nghề, đối với quy hoạch và quản lý đô thị, kỹ thuật số là vô cùng cần thiết, nó hỗ trợ chính xác hoá các phương án quy hoạch, minh bạch hoá và lưu giữ thông tin, kết nối thông minh các dữ liệu cho các mục đích có liên quan.
Trong đó, nền tảng cơ sở dữ liệu số về quy hoạch đô thị là bước đầu tiên và căn bản cần được tạo lập, bổ sung, duy trì, đảm bảo thông tin chuẩn xác liên tục phục vụ cho quá trình quản lý phát triển đô thị và các bước quy hoạch kế tiếp. Tuy nhiên, đây là công việc còn mới, đòi hỏi nhiều vấn đề kỹ thuật, thể chế hỗ trợ để vận hành. Về kỹ thuật số, hiện nay đã và đang phát triển rất nhanh chóng, có nhiều chuyên gia giỏi, nhưng thể chế để triển khai còn nhiều bất cập, bài viết phần nào đề cập, hỗ trợ thêm về mặt thể chế để xây dựng, duy trì hệ thống cơ sở dữ liệu quy hoạch đô thị.
1. Khung thể chế để quản lý công tác thiết lập và duy trì khai thác cơ sở dữ liệu quy hoạch đô thị
Cho đến nay, chúng ta đã cơ bản có một hệ thống thể chế đồng bộ, bao gồm các quy định pháp luật, cơ chế phối hợp và phân định trách nhiệm rõ ràng.
Việc xây dựng và vận hành một cơ sở dữ liệu quy hoạch đô thị hiệu quả đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều cấp độ và các bên liên quan. Dưới đây là những thể chế chính cần được thiết lập.
Hệ thống pháp luật và quy định: Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn, Luật Xây dựng, Luật Công nghệ thông tin, Luật Giao dịch điện tử, Luật An toàn thông tin mạng và các văn bản dưới luật liên quan. Các nghị định, thông tư hướng dẫn chi tiết về việc xây dựng, quản lý, khai thác và chia sẻ dữ liệu quy hoạch đô thị, ví dụ như Nghị định 111/2024/NĐ-CP quy định về hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng, bao gồm cả cơ sở dữ liệu về quy hoạch. Các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về định dạng dữ liệu, cấu trúc dữ liệu, quy cách thể hiện dữ liệu không gian, hệ quy chiếu tọa độ… Quy chế quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số theo quy định của Chính phủ.
Cơ chế phối hợp liên ngành và liên cấp: Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương (Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Bộ KH&CN) và địa phương (UBND cấp tỉnh, Sở Xây dựng, Sở QH-KT, Sở NN&MT, cấp xã phường...). Quy định rõ ràng về trách nhiệm phối hợp trong việc thu thập, cung cấp, cập nhật, điều chỉnh, quản lý, khai thác và sử dụng thông tin trong cơ sở dữ liệu. Thiết lập nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia, để đảm bảo kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống
Phân định rõ quyền và trách nhiệm:/Thể chế tổ chức: Xác định rõ quyền và trách nhiệm của cơ quan lập quy hoạch, cơ quan thẩm định, cơ quan phê duyệt, cơ quan quản lý dữ liệu và các bên liên quan khác. Quy định về trách nhiệm của người đứng đầu các sở, ban, ngành, địa phương với tiến độ, chất lượng và kết quả thực hiện. Phân định rõ quyền khai thác, sử dụng dữ liệu của các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức và cá nhân, bao gồm cả việc xác định dữ liệu mở.
Thể chế về hạ tầng công nghệ và vận hành:/cơ chế giám sát, đánh giá: Quy định về việc thiết lập trung tâm quản lý cơ sở dữ liệu và thiết kế phần mềm quản lý, khai thác sử dụng dữ liệu. Tiêu chuẩn kỹ thuật cho hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin, hệ thống phần mềm ứng dụng, nền tảng điện toán đám mây. Các quy định về an toàn thông tin, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Cơ chế đánh giá độc lập, định kỳ về chất lượng, số lượng và sự cập nhật hợp lý. Cơ chế đo lường, đánh giá hiệu quả triển khai nhiệm vụ xây dựng, phát triển, quản lý dữ liệu.
Cơ chế tài chính và nguồn lực: Quy định về việc phân bổ nguồn kinh phí cho các dự án, nhiệm vụ thực hiện liên quan đến xây dựng và duy trì cơ sở dữ liệu. Đảm bảo nguồn lực về nhân sự có đủ năng lực để vận hành, quản lý và khai thác cơ sở dữ liệu. Nguồn lực nhân sự/ thu hút nhân tài/ có chương trình đào tạo thường xuyên.
2. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật
Để đáp ứng yêu cầu hiện tại và thúc đẩy sự phát triển, một số văn bản pháp luật cụ thể cần được ưu tiên ban hành hoặc sửa đổi. Việc rà soát và cập nhật hệ thống pháp luật là cần thiết để giải quyết những vướng mắc hiện tại và tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho sự phát triển. Dưới đây là những lĩnh vực và văn bản quan trọng:
Lĩnh vực quy hoạch và quản lý đô thị:
Luật Quy hoạch: Cần xem xét sửa đổi, bổ sung để đảm bảo tính đồng bộ, khả thi và giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn áp dụng, đặc biệt là quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh và quy hoạch đô thị.
Luật Quy hoạch Đô thị và nông thôn: Bổ sung các điều liên quan đến thiết lập duy trì và khai thác dữ liệu quy hoạch đô thị, hoàn thiện sửa đổi các nội dung thích hợp với phương thức tổ chức hành chính địa phương 2 cấp
Luật Xây dựng và các văn bản hướng dẫn: Sửa đổi các quy định liên quan đến thủ tục cấp phép xây dựng, quản lý chất lượng công trình, quy chuẩn xây dựng, đặc biệt là các quy định về thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng
Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn: Việc sửa đổi, bổ sung cần tập trung vào các quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để tạo cơ chế rõ ràng, minh bạch và hài hòa lợi ích các bên.
Luật Nhà ở: Cần có những quy định cụ thể và linh hoạt hơn về phát triển nhà ở xã hội, nhà ở thương mại, quản lý chung cư, và các loại hình nhà ở khác để đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội.
Các văn bản liên quan đến quy hoạch đô thị: Bổ sung, hoàn thiện các quy định về quy hoạch chi tiết, quy hoạch phân khu, quy hoạch không gian ngầm, quy hoạch kiến trúc cảnh quan, và cơ chế kiểm soát phát triển theo quy hoạch
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật: Sửa đổi để tiếp tục đơn giản hóa hệ thống văn bản, kiểm soát quyền lực trong xây dựng pháp luật và phân định rõ thẩm quyền lập pháp
Lĩnh vực công nghệ thông tin và chuyển đổi số
Luật Giao dịch điện tử, Luật Công nghệ thông tin và Luật An toàn thông tin mạng: Cần có những quy định chi tiết hơn về giao dịch điện tử trong lĩnh vực quy hoạch, xây dựng, quản lý đô thị, cũng như các biện pháp đảm bảo an toàn, bảo mật cho cơ sở dữ liệu.
Các quy định về hạ tầng số và cơ sở dữ liệu: Xây dựng khung pháp lý cho việc hình thành, quản lý và chia sẻ cơ sở dữ liệu quốc gia về quy hoạch, xây dựng, đất đai, tài nguyên môi trường.
Sự cần thiết của phối hợp liên ngành
Việc quản lý cơ sở dữ liệu quy hoạch đô thị đòi hỏi sự tham gia của nhiều cơ quan, ban ngành khác nhau, mỗi đơn vị có vai trò và chuyên môn riêng. Phối hợp liên ngành giúp:
Tích hợp dữ liệu: Các dữ liệu về quy hoạch xây dựng, hạ tầng kỹ thuật, sử dụng đất, môi trường, dân cư, kinh tế - xã hội... cần được tích hợp trên một nền tảng chung để có cái nhìn tổng thể.
Đảm bảo tính nhất quán: Tránh tình trạng dữ liệu phân tán, mâu thuẫn giữa các ngành, các cấp.
Nâng cao hiệu quả quản lý: Tạo cơ sở dữ liệu minh bạch, dễ dàng truy cập và khai thác, hỗ trợ công tác ra quyết định, giám sát và điều hành phát triển đô thị.
Phục vụ đô thị thông minh: Xây dựng nền tảng dữ liệu vững chắc cho các ứng dụng đô thị thông minh, dịch vụ công trực tuyến.
Các lĩnh vực và cơ quan cần phối hợp
Cơ quan quản lý quy hoạch và xây dựng. Vai trò: Là đơn vị chủ trì, chịu trách nhiệm chính trong việc xây dựng, quản lý và cập nhật cơ sở dữ liệu quy hoạch. Hoạt động: Xây dựng khung pháp lý, tiêu chuẩn, quy chuẩn cho việc xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu GIS về quy hoạch. Tích hợp các đồ án quy hoạch (chung, phân khu, chi tiết) vào cơ sở dữ liệu GIS. Giám sát và kiểm soát việc thực hiện quy hoạch dựa trên dữ liệu. Cung cấp thông tin quy hoạch công khai, minh bạch cho người dân và doanh nghiệp.
Cơ quan quản lý đất đai và tài nguyên môi trường. Vai trò: Cung cấp dữ liệu nền về đất đai, địa hình, tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Hoạt động: Cung cấp dữ liệu địa lý quốc gia, dữ liệu về hiện trạng sử dụng đất, địa chính. Phối hợp trong việc đánh giá tác động môi trường, quy hoạch sử dụng đất dựa trên dữ liệu GIS. Chia sẻ dữ liệu liên thông với cơ sở dữ liệu quy hoạch.
Cơ quan quản lý hạ tầng kỹ thuật (giao thông, cấp thoát nước, điện lực, viễn thông...). Vai trò: Cung cấp dữ liệu về hiện trạng và quy hoạch phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật. Hoạt động: Xây dựng và cập nhật cơ sở dữ liệu về hạ tầng kỹ thuật đô thị (giao thông, cấp nước, thoát nước, điện, viễn thông, chiếu sáng...). Tích hợp dữ liệu hạ tầng vào hệ thống cơ sở dữ liệu đô thị chung. Phối hợp trong việc quy hoạch phát triển hạ tầng đồng bộ với quy hoạch đô thị.
Cơ quan quản lý dân cư và thống kê. Vai trò: Cung cấp dữ liệu về dân số, lao động, kinh tế - xã hội. Hoạt động: Cung cấp số liệu thống kê dân số, phân bố dân cư, thu nhập, tình hình phát triển kinh tế - xã hội. Dữ liệu này hỗ trợ phân tích, đánh giá nhu cầu phát triển đô thị và hoạch định chính sách.
Các cơ quan, doanh nghiệp khác. Vai trò: Cung cấp dữ liệu chuyên ngành hoặc sử dụng dữ liệu để phát triển ứng dụng, dịch vụ. Hoạt động: Các doanh nghiệp có thể đóng góp dữ liệu trong quá trình hoạt động và sử dụng thông tin quy hoạch. Các cơ quan khác có thể sử dụng cơ sở dữ liệu để phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu và phát triển.
3. Giải pháp để tăng cường phối hợp liên ngành
Xây dựng khung pháp lý và cơ chế phối hợp
Xây dựng khung pháp lý và cơ chế phối hợp rõ ràng: Ban hành các quy định, quy chế về việc thu thập, quản lý, chia sẻ và sử dụng dữ liệu giữa các cơ quan.
Thiết lập hạ tầng dữ liệu không gian quốc gia và đô thị: Xây dựng nền tảng công nghệ (phần cứng, phần mềm) đủ mạnh để tích hợp, lưu trữ và khai thác dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau.
Chuẩn hóa dữ liệu: Quy định rõ về tiêu chuẩn, định dạng dữ liệu để đảm bảo tính nhất quán và khả năng liên thông.
Đào tạo và nâng cao năng lực cán bộ: Tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn về GIS, quản lý cơ sở dữ liệu cho cán bộ các ngành liên quan.
Thúc đẩy chia sẻ dữ liệu: Xây dựng các cổng thông tin, nền tảng số để các cơ quan có thể dễ dàng truy cập, chia sẻ và khai thác dữ liệu.
Xây dựng cơ chế vận hành hiệu quả: Phân định rõ quyền, trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị trong quá trình vận hành, cập nhật và bảo trì hệ thống cơ sở dữ liệu.
Cơ chế, chính sách tài chính
Nguồn vốn đầu tư ban đầu: Cơ sở dữ liệu về quy hoạch đô thị thực tế là một loại tài sản quốc gia cần được đầu tư thích đáng, do đó để tạo lập nền tảng ban đầu cần có các nguồn vốn cụ thể:
Nguồn ngân sách của Nhà nước: Trung ương cấp vốn cho các đô thị loại đặc biệt, các thành phố trực thuộc Trung ương. Địa phương bố trí ngân sách cho các đô thị còn lại.
Nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi: cho các thành phố lớn có nhu cầu và điều kiện tiếp cận.
Xã hội hóa đầu tư: Hợp tác công tư (PPP) với các doanh nghiệp công nghệ, bản đồ, dữ liệu. Cho phép tư nhân đầu tư hạ tầng dữ liệu với cơ chế chia sẻ lợi ích.
Nguồn kinh phí duy trì, cập nhật
Ngân sách thường xuyên: Dự toán hàng năm cho Sở QH-KT hoặc các đơn vị quản lý dữ liệu đô thị.
Nguồn thu từ dịch vụ dữ liệu: Phí khai thác dữ liệu quy hoạch cho tổ chức, cá nhân. Thu phí tích hợp dữ liệu từ các đơn vị tư vấn, nhà đầu tư.
Đấu thầu dịch vụ công nghệ thông tin: Đặt hàng doanh nghiệp duy trì hệ thống cơ sở dữ liệu (gồm bảo mật, cập nhật, nâng cấp định kỳ).
Cơ chế quản lý tài chính minh bạch. Phân định rõ nguồn thu - chi cho từng loại hoạt động (thiết lập, duy trì, cập nhật). Xây dựng cơ chế giám sát tài chính độc lập từ HĐND hoặc các tổ chức kiểm toán. Ứng dụng công nghệ số để giám sát dòng tiền đầu tư, sử dụng ngân sách công.
Chính sách hỗ trợ và ưu đãi. Ưu đãi thuế cho doanh nghiệp tham gia đầu tư hệ thống cơ sở dữ liệu. Hỗ trợ tín dụng (lãi suất thấp, bảo lãnh tín dụng) cho doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực GIS, quy hoạch số. Cấp ngân sách ưu tiên cho các đô thị thực hiện chuyển đổi số quy hoạch theo mô hình thí điểm.
Hành lang pháp lý
Ban hành Thông tư hướng dẫn tài chính chuyên biệt cho hoạt động xây dựng, vận hành cơ sở dữ liệu quy hoạch. Sửa đổi, bổ sung các Luật và quy định liên quan để quy định rõ về nguồn lực tài chính và trách nhiệm các bên liên quan. Quy định rõ trách nhiệm của UBND các cấp trong bố trí, điều phối và kiểm soát nguồn lực.
Thu phí dịch vụ cung cấp cơ sở dữ liệu quy hoạch đô thị
Có thể thu phí khi cung cấp thông tin từ cơ sở dữ liệu quy hoạch đô thị, nhưng cần thực hiện đúng theo quy định của pháp luật để đảm bảo minh bạch, hợp pháp và không gây cản trở tiếp cận thông tin của người dân. Cơ sở pháp lý cho việc thu phí có trong các điều Luật Quy hoạch đô thị (sửa đổi) và Luật Tiếp cận thông tin (2016), người dân có quyền được tiếp cận thông tin quy hoạch, tuy nhiên, có thể thu phí đối với việc sao chụp, in ấn, cung cấp dữ liệu ở dạng đặc biệt hoặc phục vụ mục đích thương mại.
Luật Phí và Lệ phí (2015), Điều 6, khoản 1 “Phí là khoản tiền được tổ chức, cá nhân phải trả khi được cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ công...”. Điều 12, khoản 1 và 2: Có hai phương thức quản lý phí: Nộp toàn bộ vào ngân sách nhà nước và ngân sách cấp phát lại theo dự toán; Được để lại một phần hoặc toàn bộ cho đơn vị thu phí để bù đắp chi phí cung cấp dịch vụ (nếu được cấp có thẩm quyền cho phép).
Thông tư 85/2019/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn chi tiết việc quản lý, sử dụng phí, trong đó: Phí thu từ cung cấp dữ liệu (bao gồm dữ liệu quy hoạch đô thị) có thể để lại một phần cho đơn vị thu nếu được quy định cụ thể trong nghị quyết của HĐND tỉnh hoặc Thông tư của Bộ. Sử dụng phí để cập nhật dữ liệu quy hoạch, được sử dụng nếu: HĐND tỉnh/thành phố đã ban hành nghị quyết quy định mức thu phí và tỷ lệ phần trăm được để lại cho đơn vị thu. Trong quyết định phân bổ có nêu rõ khoản phí được dùng cho chi cập nhật, bảo trì hệ thống dữ liệu; Chi đào tạo nhân lực, vận hành hệ thống; Chi bảo mật, phần mềm quản lý dữ liệu.
Không được tự ý sử dụng nếu không có cơ chế cấp lại hoặc không có văn bản pháp lý cụ thể cho việc để lại chi phí vận hành, phí thu phải nộp toàn bộ vào ngân sách.
Một số địa phương như TP.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng... đã có các quy định cụ thể liên quan: Quy định cụ thể mức thu phí cung cấp thông tin quy hoạch đô thị, Cho phép đơn vị thu được giữ lại một phần để chi cho công tác duy trì, cập nhật dữ liệu (theo quyết định hoặc nghị quyết HĐND cấp tỉnh)
4. Huy động tư nhân tham gia lập, duy trì và cập nhật cơ sở dữ liệu quy hoạch đô thị
Một số cơ chế huy động tư nhân
Việc huy động khu vực tư nhân tham gia vào lập, duy trì và cập nhật cơ sở dữ liệu quy hoạch đô thị là một hướng đi cần thiết nhằm tận dụng nguồn lực tài chính - công nghệ - nhân lực từ doanh nghiệp; Giảm gánh nặng ngân sách nhà nước, Nâng cao chất lượng, tính cập nhật và khả năng ứng dụng dữ liệu. Tuy nhiên khi huy động tư nhân tham gia công tác xây dựng và duy trì cơ sở dữ liệu quy hoạch cần có một số cơ chế thích hợp
Cơ chế hợp tác công - tư (PPP): Đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ có kinh phí cho doanh nghiệp tư nhân thu thập, số hóa, cập nhật dữ liệu quy hoạch; Hợp đồng BOT, BTO, BT công nghệ thông tin: Doanh nghiệp đầu tư hệ thống cơ sở dữ liệu, nhà nước sử dụng và trả phí định kỳ, hoặc doanh nghiệp khai thác dịch vụ. Cần có một số điều kiện cụ thể, hướng dẫn chi tiết áp dụng PPP trong lĩnh vực số hóa và dữ liệu đô thị (có thể bổ sung trong các nghị định hiện hành), cần có Mẫu hợp đồng, quy trình lựa chọn đối tác tư nhân minh bạch.
Khuyến khích đầu tư qua xã hội hóa: Cho phép doanh nghiệp công nghệ, bản đồ, GIS… tham gia: Thu thập dữ liệu nền (bản đồ địa hình, hệ thống công trình ngầm…); Phát triển nền tảng công nghệ (GIS, CSDL trực tuyến). Đổi lại, doanh nghiệp được: Cung cấp dịch vụ khai thác dữ liệu theo giá thị trường; Chia sẻ lợi nhuận với Nhà nước (nếu có).
Để đảm bảo, cần có Hợp đồng rõ ràng về quyền sở hữu dữ liệu và kiểm soát chất lượng, tính bảo mật, cập nhật dữ liệu.
Cơ chế thuê dịch vụ công nghệ thông tin (IT-as-a-Service): Thay vì tự đầu tư hạ tầng, phần mềm, đơn vị quản lý nhà nước có thể thuê doanh nghiệp tư nhân vận hành hệ thống dữ liệu quy hoạch, ví dụ: Cho thuê hạ tầng lưu trữ (cloud); Dịch vụ cập nhật dữ liệu định kỳ (theo gói, theo quý); Dịch vụ bảo trì, bảo mật hệ thống. Cách làm này linh hoạt, ít rủi ro, dễ thay đổi nhà cung cấp nếu không đáp ứng yêu cầu.
Tạo cơ hội kinh doanh dữ liệu hợp pháp: Có thể cho phép doanh nghiệp trích xuất, xử lý lại dữ liệu quy hoạch để cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng (như bản đồ tương tác, ứng dụng bất động sản…); Khai thác dữ liệu phục vụ các nền tảng công nghệ (smart city, giao thông thông minh, quản lý đất đai…). Tuy nhiên Nhà nước vẫn giữ quyền sở hữu dữ liệu gốc, nhưng cho phép sử dụng có kiểm soát, tương tự như mô hình “open data có điều kiện”.
Hợp tác nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao công nghệ: Liên kết với các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp công nghệ để: Đào tạo chuyên gia về GIS, quy hoạch số; Nghiên cứu, phát triển công nghệ mới áp dụng cho cơ sở dữ liệu quy hoạch; Chuyển giao phần mềm, giải pháp tiết kiệm chi phí, phù hợp thực tiễn địa phương
Hoàn thiện hành lang pháp lý khi có sự tham gia của tư nhân
Khi có tư nhân tham gia vào lập, duy trì và cập nhật cơ sở dữ liệu quy hoạch đô thị, Nhà nước cần có hệ thống quy định rõ ràng, chặt chẽ: Đảm bảo an toàn, bảo mật, toàn vẹn dữ liệu; Xác định quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp tư nhân; Tránh lạm dụng, thương mại hóa quá mức hoặc làm sai lệch dữ liệu; Bảo vệ lợi ích công cộng và quyền tiếp cận thông tin của người dân.
Cần ban hành hướng dẫn rõ ràng về: Quy định quản lý dữ liệu khi có tư nhân tham gia; Cơ chế bảo mật, chia sẻ, khai thác và sở hữu dữ liệu; Tiêu chuẩn kỹ thuật, định dạng dữ liệu thống nhất.
Tóm lại, việc hoàn thiện thể chế chính sách thích hợp để xây dựng, duy trì và phát triển một hệ thống cơ sở dữ liệu quy hoạch đô thị liên thông trên nền GIS, được hỗ trợ bởi sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp, giữa Nhà nước và tư nhân là hết sức cần thiết, là nền tảng quan trọng để phát triển quy hoạch đô thị thông minh, hiệu quả và bền vững.