Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Văn bản số 10933/VPCP-CN ngày 27/10/2026, truyền đạt chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc về điều phối, hỗ trợ nguồn vật liệu xây dựng thông thường giữa các tỉnh, thành phố phục vụ các công trình, dự án trọng điểm quốc gia.

Theo đó, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố liên quan phải thực hiện nghiêm phương án điều phối tạm thời tại Quyết định số 2800/QĐ-BCT ngày 24/10/2026 của Bộ Công Thương, bảo đảm đủ vật liệu, đáp ứng tiến độ và chất lượng thi công. Các địa phương có trách nhiệm thường xuyên cập nhật nguồn cung, nhu cầu vật liệu, kịp thời báo cáo những khó khăn, vướng mắc vượt thẩm quyền.

Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương là cơ quan chủ quản hoặc có thẩm quyền đối với dự án trọng điểm chỉ đạo chủ đầu tư xác định nhu cầu vật liệu hằng năm, phối hợp triển khai phương án phân bổ. Bộ Công Thương có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc và hướng dẫn thực hiện, bảo đảm hiệu quả, khả thi.

Bộ Công Thương và Bộ Tư pháp được giao khẩn trương xây dựng, trình Chính phủ nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 193/2025/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Địa chất và khoáng sản, hoàn thành trong tháng 11/2026.

28-1793147783-dieu-phoi-nguon-vat-lieu-xay-dung-giua-cac-dia-phuong-phuc-vu-du-an-trong-diem
 

Điều phối vật liệu theo khả năng cung ứng từng địa phương

Theo phương án của Bộ Công Thương, việc điều phối nhằm bảo đảm đủ nguồn vật liệu, đúng thời điểm, đáp ứng yêu cầu chất lượng và chi phí hợp lý cho các công trình trọng điểm giai đoạn 2026-2030. Trước mắt, phương án ưu tiên các dự án cao tốc tại Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng và các dự án ở tỉnh Cà Mau.

Các địa phương được chia thành ba nhóm theo khả năng cung ứng và nhu cầu hỗ trợ. Nhóm 1 gồm 18 tỉnh, thành phố có thể tự bảo đảm nhu cầu và hỗ trợ địa phương khác. Nhóm 2 gồm 10 địa phương thiếu một số loại vật liệu nhưng có thể tự cân đối thông qua nâng công suất, mở rộng khai thác hoặc cấp phép mỏ mới. Nhóm 3 gồm 6 địa phương thiếu vật liệu, cần được điều phối từ nơi khác, gồm Hà Nội, Hưng Yên, Tây Ninh, Cà Mau, Cần Thơ và Ninh Bình.

Phương án xác định cụ thể các hành lang cung ứng liên vùng. Tại khu vực phía Nam, đá xây dựng từ An Giang, TP.HCM và Đồng Nai được điều phối cho Cà Mau, Cần Thơ; cát từ Cần Thơ, Vĩnh Long và Đồng Tháp được cung cấp cho Tây Ninh và Đồng Nai.

Tại Đồng bằng sông Hồng, đá xây dựng và đất san lấp từ Ninh Bình, Phú Thọ, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Thanh Hóa và Nghệ An được điều phối cho Hà Nội. Hưng Yên được hỗ trợ đá xây dựng, đất san lấp từ Ninh Bình, Quảng Ninh và Tuyên Quang.

Phân bổ cụ thể cho các địa phương thiếu vật liệu

Hà Nội có nhu cầu bổ sung 272,25 triệu m³ đá xây dựng, 320,19 triệu m³ cát và 243,88 triệu m³ đất san lấp. Trong đó, đá xây dựng dự kiến được cung cấp từ Ninh Bình, Phú Thọ, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Thanh Hóa và Nghệ An. Nguồn đất san lấp được phân bổ từ Phú Thọ, Bắc Ninh, Ninh Bình, Thái Nguyên và Tuyên Quang.

Đối với cát, Hà Nội dự kiến sử dụng nguồn thu hồi từ dự án nạo vét lòng dẫn, cải thiện khả năng thoát lũ và bảo đảm giao thông thủy nội địa trên sông Hồng đoạn qua thành phố. Trước ngày 15/11/2026, UBND TP Hà Nội phải báo cáo tiến độ chuẩn bị dự án và nhu cầu cát cấp bách giai đoạn 2026-2027 chưa được đáp ứng để Bộ Công Thương xem xét điều phối bổ sung.

Hưng Yên cần bổ sung 9,5 triệu m³ đá xây dựng, 20 triệu m³ cát san lấp và 13,3 triệu m³ đất san lấp. Trong đó, Ninh Bình dự kiến cung cấp 9,5 triệu m³ đá. Đối với cát, tỉnh được yêu cầu rà soát, bổ sung quy hoạch và cấp phép khai thác các khu vực đã đánh giá tiềm năng, với quy mô dự kiến khoảng 89,5 triệu m³. Tỉnh cũng phải làm việc với Quảng Ninh, Ninh Bình và Tuyên Quang để thống nhất nguồn đất san lấp, kể cả đất đá thải mỏ than, báo cáo Bộ Công Thương trước ngày 15/11/2026.

Tại Tây Ninh, nhu cầu hỗ trợ là 15,6 triệu m³ cát san lấp phục vụ dự án Vành đai 4 TP.HCM và cao tốc TP.HCM - Trung Lương - Mỹ Thuận. Trước mắt, Vĩnh Long và Đồng Tháp mỗi tỉnh cung cấp 2 triệu m³. Tây Ninh được yêu cầu ưu tiên sử dụng đất san lấp, cát sông tại chỗ và báo cáo kết quả rà soát trước ngày 30/11/2026.

Cà Mau cần 22,1 triệu m³ đá xây dựng và 20,7 triệu m³ cát san lấp phục vụ 4 dự án trọng điểm quốc gia do Bộ Quốc phòng làm chủ đầu tư, gồm các tuyến cao tốc Cà Mau - Cái Nước, Cái Nước - Đất Mũi, đường giao thông nối cảng Hòn Khoai và Cảng tổng hợp lưỡng dụng Hòn Khoai.

28-1793147796-dieu-phoi-nguon-vat-lieu-xay-dung-giua-cac-dia-phuong-phuc-vu-du-an-trong-diem
 

Nguồn đá dự kiến được cung cấp từ TP.HCM với 10,5 triệu m³, Đồng Nai 10,5 triệu m³ và An Giang 1,1 triệu m³. Nguồn cát gồm 17,2 triệu m³ từ Cần Thơ, 2,3 triệu m³ từ Đồng Tháp và 1,2 triệu m³ từ Vĩnh Long. Khối lượng này bao gồm cả vật liệu đã được cấp phép hoặc đang cung cấp cho các dự án tại Cà Mau.

Ngoài ra, TP.HCM được giao cung cấp 2,5 triệu m³ đá xây dựng cho cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng giai đoạn 1. Ninh Bình phải xác định nhu cầu cát theo từng dự án, từng năm và nguồn đề xuất hỗ trợ, báo cáo Bộ Công Thương trước ngày 15/11/2026.

Đối với cao tốc Hữu Nghị - Chi Lăng và Đồng Đăng - Trà Lĩnh, Lạng Sơn và Cao Bằng được yêu cầu chỉ đạo nhà đầu tư, nhà thầu khảo sát các khu vực đá granit, bazan, ryolit có thể làm cốt liệu bê tông nhựa tạo nhám. Nếu đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, các mỏ sẽ được cấp phép khai thác theo cơ chế đặc thù nhằm giảm phụ thuộc vào mỏ đá Khau Đêm.

Ưu tiên nguồn hợp pháp, rút ngắn thủ tục cấp phép

Phương án cho phép huy động vật liệu từ các mỏ đã được cấp phép, khu vực được xác nhận thu hồi khoáng sản, nguồn khai thác qua đấu giá và các nguồn hợp pháp khác. Khi các nguồn này không đáp ứng nhu cầu, có thể xem xét huy động khoáng sản tại khu vực đã được điều tra, đánh giá tiềm năng nhưng chưa cấp phép.

Thứ tự ưu tiên điều phối gồm các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm quốc gia; dự án khẩn cấp, cấp bách và phòng, chống thiên tai; sau đó là các công trình, dự án khác theo quy định. Việc điều phối không phụ thuộc địa giới hành chính, đồng thời khuyến khích sử dụng vật liệu thay thế đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đất đá thải mỏ và cát biển theo quy định.

Việc mua bán vật liệu được thực hiện theo hợp đồng giữa các bên. Giá bán do đơn vị khai thác, thu hồi khoáng sản quyết định trên cơ sở thỏa thuận với bên mua; các bên phải kê khai, niêm yết và công khai giá theo quy định.

Khối lượng được phân công là mức tối thiểu các địa phương cung cấp phải bảo đảm trong giai đoạn 2026-2030, bao gồm cả lượng vật liệu đã được cấp phép hoặc đang cung ứng cho các dự án tại địa phương tiếp nhận.

UBND các tỉnh, thành phố tiếp nhận có trách nhiệm phối hợp với chủ đầu tư và địa phương cung cấp xác định danh mục mỏ, khối lượng theo từng năm, dự án tiếp nhận và tuyến vận chuyển, gửi Bộ Công Thương tổng hợp. Các địa phương cung cấp được yêu cầu ưu tiên giải quyết hồ sơ cấp mới, gia hạn, nâng công suất và điều chỉnh giấy phép theo cơ chế đặc thù.

Trường hợp không bảo đảm khối lượng được phân công, địa phương cung cấp phải báo cáo Bộ Công Thương bằng văn bản trong vòng 5 ngày làm việc kể từ khi xác định nguyên nhân, nêu rõ lý do và đề xuất nguồn thay thế để điều chỉnh phương án hoặc báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Đức Khôi (T/H)