Tổng hội Xây dựng
11/10/2026 09:30Ngành xây dựng trước cơ hội tăng trưởng và yêu cầu chuyển đổi kép
Tại Diễn đàn Xây dựng Việt Nam 2026 với chủ đề “Định hình tương lai ngành xây dựng từ chuyển đổi kép” do Tổng hội Xây dựng Việt Nam và Tạp chí Người Xây dựng tổ chức, TS. Cấn Văn Lực đã có bài tham luận phân tích bối cảnh kinh tế, những động lực tăng trưởng và các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành xây dựng trong thời gian tới.

Nhiều động lực thúc đẩy tăng trưởng ngành xây dựng
Theo TS. Cấn Văn Lực, kinh tế thế giới giai đoạn 2026–2027 được dự báo giảm tốc, với mức tăng trưởng khoảng 2,5–3%, thấp hơn mức bình quân 3,5% của giai đoạn 2021–2025. Lạm phát toàn cầu có xu hướng tăng trở lại, trong khi thương mại quốc tế tăng chậm hơn, cùng với những bất ổn từ xung đột địa chính trị, chiến tranh thương mại và công nghệ, rủi ro tỷ giá, nợ công và biến động chuỗi cung ứng.
Bên cạnh những thách thức này, đầu tư vào cơ sở hạ tầng, năng lượng, chuyển đổi xanh và công nghệ số, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo, trung tâm dữ liệu và công nghiệp bán dẫn, tiếp tục mở ra dư địa phát triển cho các ngành kinh tế, trong đó có xây dựng.
Đối với Việt Nam, các động lực tăng trưởng đang phục hồi tương đối đồng đều. Tiêu dùng trong nước cải thiện, xuất khẩu và đầu tư tư nhân tăng trưởng, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục tích cực, trong khi đầu tư công được thúc đẩy. Nền tảng kinh tế vĩ mô và năng lực quản trị rủi ro từng bước được củng cố; lạm phát, tỷ giá và nợ xấu vẫn trong tầm kiểm soát.
Cùng với đó, việc hoàn thiện thể chế, sửa đổi các quy định pháp luật, tinh gọn bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính và đẩy mạnh đầu tư hạ tầng đang tạo thêm không gian phát triển. Quá trình hội nhập quốc tế, dịch chuyển chuỗi cung ứng và xu hướng đa dạng hóa địa điểm sản xuất cũng đem lại cơ hội thu hút đầu tư vào khu công nghiệp, nhà xưởng, logistics và hạ tầng năng lượng.
Đáng chú ý, theo số liệu được TS. Cấn Văn Lực chia sẻ, trong 9 tháng đầu năm 2026, GDP ngành xây dựng tăng 12,22%, đóng góp khoảng 8,25% vào tăng trưởng chung của nền kinh tế. Trong khi đó, GDP lĩnh vực kinh doanh bất động sản tăng 5,15%, đóng góp khoảng 1,7%.
So với năm 2025, vai trò của ngành xây dựng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ngày càng rõ nét. Năm 2025, lĩnh vực xây dựng đóng góp 7,3% và kinh doanh bất động sản đóng góp 2,01% vào tăng trưởng GDP.

Theo chuyên gia kinh tế này, nếu Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số, cả ba khu vực kinh tế đều phải tăng trưởng mạnh. Trong đó, nông, lâm nghiệp và thủy sản cần tăng khoảng 4–4,5%; công nghiệp – xây dựng và dịch vụ đều cần đạt mức tăng trưởng trên 10%.
Điều này cho thấy ngành xây dựng không chỉ hưởng lợi từ đà phục hồi của nền kinh tế mà còn giữ vai trò quan trọng trong việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao thông qua phát triển hạ tầng, đô thị, công nghiệp và nhà ở.
Áp lực chi phí, dòng vốn và yêu cầu phát triển bền vững
Bên cạnh những thuận lợi, TS. Cấn Văn Lực cho rằng ngành xây dựng vẫn đối mặt với nhiều thách thức mang tính cơ cấu.
Trước hết là áp lực chi phí đầu vào. Trong 9 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 6,68% so với cùng kỳ, trong khi nhóm giao thông tăng 6,06% và nhóm hàng ăn, dịch vụ ăn uống tăng 4,7%. Giá năng lượng, nhân công, vật liệu xây dựng đều tăng đã tạo thêm áp lực lên chi phí sản xuất, thi công.
Theo chuyên gia, việc kiểm soát lạm phát cần chú trọng các nhóm hàng hóa, dịch vụ có mức tăng giá cao, đặc biệt là nhà ở, vật liệu xây dựng, giao thông và hàng ăn, dịch vụ ăn uống.

Khó khăn về vốn cũng là vấn đề đáng quan tâm. Nhu cầu tài chính của các dự án xây dựng lớn, thời gian thu hồi vốn kéo dài, trong khi mặt bằng lãi suất còn cao và dòng tiền của nhiều doanh nghiệp chịu sức ép. Tình trạng chậm thanh toán, nợ đọng xây dựng cơ bản và giải ngân đầu tư công chưa đồng đều tiếp tục ảnh hưởng đến tiến độ thi công cũng như khả năng triển khai dự án.
Bên cạnh đó, công tác giải phóng mặt bằng, điều chỉnh dự án, cập nhật định mức và đơn giá theo biến động thị trường vẫn còn vướng mắc. Việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện quy trình phối hợp và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách.
Năng lực của doanh nghiệp xây dựng chưa đồng đều, trong khi phần lớn doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, hạn chế về vốn, công nghệ và quản trị. Điều này khiến nhiều đơn vị gặp khó khăn khi tham gia các dự án hạ tầng quy mô lớn, yêu cầu kỹ thuật cao và đòi hỏi năng lực tài chính dài hạn.

Ở lĩnh vực bất động sản, giá nhà ở neo cao, nguồn cung chưa phù hợp với khả năng chi trả của phần lớn người dân, thanh khoản phân hóa và nhiều dự án còn vướng mắc pháp lý. Những yếu tố này ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ sản phẩm, đồng thời tác động đến hoạt động của các doanh nghiệp xây dựng và nhà thầu.
TS. Cấn Văn Lực nhấn mạnh, bốn xu hướng chuyển đổi lớn gồm chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng và chuyển đổi mô hình tăng trưởng vừa mở ra cơ hội, vừa đặt ra yêu cầu đổi mới đối với doanh nghiệp xây dựng. Khả năng thích ứng sẽ quyết định sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong giai đoạn tới.
Hoàn thiện thể chế, khơi thông nguồn lực và nâng cao năng lực doanh nghiệp
Theo TS. Cấn Văn Lực, những năm gần đây, nhiều cơ chế, chính sách đã được ban hành nhằm tháo gỡ khó khăn cho các dự án đầu tư, đất đai và thị trường bất động sản, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp xây dựng.
Trong đó, Nghị quyết số 170/2024/QH15 về cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án, đất đai tại TP.HCM, TP. Đà Nẵng và tỉnh Khánh Hòa; Nghị quyết số 171/2024/QH15 về thí điểm thực hiện dự án nhà ở thương mại thông qua thỏa thuận nhận quyền sử dụng đất hoặc trên cơ sở quyền sử dụng đất hiện có là những chính sách đáng chú ý.
Các quy định nhằm tháo gỡ vướng mắc trong quy hoạch, xử lý vi phạm đất đai và giải quyết các dự án tồn đọng cũng góp phần khơi thông nguồn lực đầu tư.

Đối với lĩnh vực nhà ở xã hội (NƠXH), Nghị quyết số 201/2025/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển NƠXH cùng các quy định hướng dẫn được kỳ vọng tạo thêm điều kiện phát triển nguồn cung nhà ở phù hợp với khả năng chi trả của người dân. Việc hình thành Quỹ nhà ở quốc gia cũng mở ra hướng phát triển nhà ở xã hội cho thuê, góp phần đa dạng hóa sản phẩm trên thị trường.
Từ thực tiễn này, TS. Cấn Văn Lực đề xuất nhóm giải pháp đồng bộ đối với cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp.
Đối với Nhà nước, các bộ, ngành và địa phương, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, bảo đảm tính đồng bộ giữa pháp luật về xây dựng, đất đai, đầu tư, đấu thầu và đối tác công tư (PPP). Đồng thời, đẩy mạnh phân cấp, đơn giản hóa và số hóa thủ tục thẩm định, cấp phép, định giá đất; nâng cao hiệu quả tổ chức thực thi chính sách.
Công tác cập nhật định mức, đơn giá xây dựng cần bám sát diễn biến thị trường, đồng thời có cơ chế điều chỉnh giá hợp đồng phù hợp khi giá vật liệu, nhiên liệu biến động lớn. Với các dự án đầu tư công, cần đẩy nhanh giải phóng mặt bằng, chủ động nguồn cung vật liệu, xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản và bảo đảm thanh toán đúng hạn cho nhà thầu.
Cơ quan quản lý cũng cần có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp trong nước tham gia các dự án quy mô lớn, thúc đẩy liên danh và chuyển giao công nghệ, nhất là trong các lĩnh vực đường sắt tốc độ cao, sân bay, cảng biển, năng lượng và phát triển đô thị.
Đối với thị trường bất động sản, cần tiếp tục xử lý các dự án tồn đọng, phát triển nguồn cung nhà ở xã hội và nhà ở thương mại phù hợp khả năng chi trả, đồng thời tăng tính minh bạch và hạn chế đầu cơ. Việc đa dạng hóa các kênh huy động vốn, như trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu xanh, quỹ đầu tư hạ tầng và quỹ tín thác đầu tư bất động sản (REITs), cũng cần được quan tâm, đi đôi với nâng cao chất lượng quản trị rủi ro và mở rộng các mô hình PPP có cơ chế chia sẻ rủi ro rõ ràng.
Đối với doanh nghiệp xây dựng, yêu cầu trước mắt là tái cấu trúc hoạt động, tăng cường kiểm soát dòng tiền, cân đối nguồn lực và hạn chế đầu tư dàn trải. Doanh nghiệp cần chủ động quản trị các khoản nợ đến hạn, kiểm soát chi phí và đánh giá chặt chẽ hiệu quả của từng dự án.
Cùng với đó, cần tận dụng hiệu quả các chương trình hỗ trợ và cơ chế, chính sách phát triển hạ tầng, nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê; đa dạng hóa nguồn vốn, sản phẩm và thị trường, từng bước tăng tỷ trọng hoạt động trong các lĩnh vực hạ tầng, công nghiệp, logistics và năng lượng.
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là kỹ sư, cán bộ quản lý dự án, chuyên gia BIM, tài chính dự án và an toàn lao động, cũng là nhiệm vụ quan trọng. Doanh nghiệp cần chuẩn hóa quy trình, nâng cao năng lực quản trị, xây dựng văn hóa doanh nghiệp và chủ động đáp ứng các yêu cầu mới về hành nghề, chất lượng công trình, công trình xanh và số hóa dữ liệu xây dựng.
TS. Cấn Văn Lực cho rằng, trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất định, ngành xây dựng Việt Nam vẫn có cơ hội tăng trưởng nhờ đầu tư công, phát triển hạ tầng, đô thị hóa và dịch chuyển chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, để biến cơ hội thành kết quả thực chất, cần sự phối hợp giữa Nhà nước và doanh nghiệp trong tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, khơi thông dòng vốn, kiểm soát chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Đây cũng là nền tảng để ngành xây dựng phát triển theo hướng hiệu quả, xanh và bền vững hơn, đóng góp tích cực vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn 2026–2027 và những năm tiếp theo.