Công ty Cổ phần Sông Đà Cao Cường đề nghị làm rõ các quy định về an toàn phóng xạ đối với vật liệu từ tro xỉ, phạm vi áp dụng QCVN 16, cũng như phương pháp đánh giá khả năng chống cháy, cách âm, chống thấm và hiệu quả năng lượng của hệ tường, vách.

Ngày 19/10/2026, Tổng hội Xây dựng Việt Nam ban hành Công văn số 532/CV-THXDVN gửi Bộ Xây dựng, góp ý hồ sơ dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 04-01:2026/BXD – Công trình dân dụng.

Đáng chú ý, các ý kiến góp ý được Tổng hội tổng hợp từ nhiều nguồn, trong đó có các đơn vị chuyên môn, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng và đội ngũ chuyên gia là thành viên Tổng hội.

Trong văn bản gửi Tổng hội Xây dựng Việt Nam góp ý hồ sơ Dự thảo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về yêu cầu kỹ thuật đối với công trình dân dụng, Công ty Cổ phần Sông Đà Cao Cường (Sông Đà Cao Cường) thống nhất với sự cần thiết ban hành quy chuẩn nhằm bảo đảm an toàn, sức khỏe người sử dụng và nâng cao chất lượng công trình.

Tuy nhiên, qua nghiên cứu dự thảo, doanh nghiệp cho rằng một số quy định cần được làm rõ để bảo đảm tính thống nhất, khả thi khi áp dụng, tránh phát sinh thủ tục và chi phí thử nghiệm không cần thiết cho doanh nghiệp.

03-1793693959-song-da-cao-cuong-gop-y-hoan-thien-du-thao-quy-chuan-ky-thuat-cong-trinh-dan-dung
Văn bản góp ý hoàn thiện dự thảo quy chuẩn kỹ thuật công trình dân dụng của Công ty Cổ phần Sông Đà Cao Cường

Làm rõ yêu cầu an toàn phóng xạ đối với vật liệu từ tro xỉ

Một trong những nội dung được Sông Đà Cao Cường quan tâm là quy định về an toàn phóng xạ đối với vật liệu xây dựng có nguồn gốc tro xỉ tại khoản 2.3.5.

Theo doanh nghiệp, dự thảo chưa phân định rõ đối tượng kiểm soát là tro xỉ nguyên liệu, phụ gia khoáng hay sản phẩm hoàn chỉnh. Đồng thời, các quy định về phương pháp xác định chỉ số hoạt độ phóng xạ (I), cách lấy mẫu, chia lô và điều kiện thử nghiệm lại chưa cụ thể.

Đáng chú ý, Phụ lục B của QCVN 16:2023/BXD sử dụng chỉ tiêu hoạt độ phóng xạ tự nhiên Aeff đối với tro bay. Vì vậy, dự thảo cần làm rõ mối quan hệ giữa Aeff và chỉ số I, tránh mặc nhiên coi hai chỉ tiêu này tương đương. Nếu không phân định rõ, doanh nghiệp có thể phải thử nghiệm lặp lại ở nhiều công đoạn, từ nguyên liệu đến vữa, bê tông khí chưng áp (AAC), panel và sản phẩm đưa vào công trình.

Sông Đà Cao Cường đề nghị quy định việc kiểm soát an toàn phóng xạ theo từng loại vật liệu và mục đích sử dụng, đồng thời xác định rõ đối tượng đánh giá, phương pháp thử, cách lấy mẫu và nguyên tắc chấp nhận kết quả. Việc đánh giá nguyên liệu và sản phẩm hoàn chỉnh cần được phân định theo quy chuẩn sản phẩm và điều kiện sử dụng thực tế.

Trường hợp duy trì giới hạn chỉ số I không lớn hơn 1, cơ quan soạn thảo cần bổ sung cơ sở lựa chọn ngưỡng, phương pháp tính và phạm vi áp dụng. Doanh nghiệp cũng đề nghị không miễn kiểm soát chỉ vì nguyên liệu đã được thử nghiệm, nhưng không yêu cầu thử lại khi không có căn cứ kỹ thuật hoặc pháp lý.

03-1793694125-song-da-cao-cuong-gop-y-hoan-thien-du-thao-quy-chuan-ky-thuat-cong-trinh-dan-dung
Sản xuất vật liệu xây dựng từ tro xỉ

Phân định phạm vi áp dụng QCVN 16 và hồ sơ chất lượng vật liệu

Tại khoản 2.3.1, dự thảo yêu cầu vật liệu xây dựng sử dụng trong công trình phải tuân thủ QCVN 16:2023/BXD và các tiêu chuẩn được lựa chọn áp dụng.

Theo Sông Đà Cao Cường, cách diễn đạt này có thể dẫn đến cách hiểu rằng tất cả vật liệu xây dựng đều thuộc diện quản lý theo QCVN 16. Trong khi đó, phạm vi áp dụng cần được xác định theo từng nhóm sản phẩm và mục đích sử dụng, đặc biệt đối với tro bay, vữa khô, keo dán, AAC và panel.

Doanh nghiệp cho rằng chứng nhận hợp quy sản phẩm không thay thế việc kiểm soát chất lượng trong quá trình thi công. Ngược lại, công tác nghiệm thu công trình cũng không nên làm phát sinh thêm một thủ tục hợp quy sản phẩm mới.

Vì vậy, doanh nghiệp kiến nghị quy định rõ: vật liệu xây dựng phải phù hợp với thiết kế, chỉ dẫn kỹ thuật được phê duyệt và tiêu chuẩn áp dụng; riêng sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi điều chỉnh của QCVN 16 và các quy chuẩn liên quan phải đáp ứng những yêu cầu tương ứng.

Đồng thời, cần làm rõ điều kiện sử dụng kết quả thử nghiệm có tính đại diện, khả năng truy xuất và các trường hợp phải thử bổ sung. Quy định cũng cần phân biệt nghĩa vụ bắt buộc theo pháp luật với yêu cầu bổ sung trong hợp đồng, tránh áp dụng một loại hồ sơ cho tất cả vật liệu.

Hoàn thiện phương pháp đánh giá an toàn và chất lượng hệ tường, vách

Đối với yêu cầu về phát thải chất độc hại tại khoản 2.3.6, Sông Đà Cao Cường đánh giá mục tiêu bảo vệ sức khỏe người sử dụng là cần thiết. Tuy nhiên, dự thảo chưa xác định cụ thể các chất cần kiểm soát, giới hạn phát thải, thời điểm và điều kiện thử nghiệm.

Doanh nghiệp lưu ý, hàm lượng chất trong sản phẩm, mức phát thải của vật liệu và nồng độ chất trong không khí công trình là những đối tượng đánh giá khác nhau. Vì vậy, cần quy định rõ nhóm vật liệu, chất cần kiểm soát, giới hạn và phương pháp thử, tránh tình trạng mỗi dự án áp dụng một cách khác nhau hoặc yêu cầu thử nghiệm tất cả chất độc hại đối với mọi sản phẩm khi chưa có căn cứ.

Về an toàn cháy, tại khoản 2.3.2 và mục 2.4, dự thảo dẫn chiếu việc tuân thủ QCVN 06:2022/BXD và Sửa đổi 1:2023.

Theo doanh nghiệp, cần phân biệt đặc tính cháy của vật liệu với giới hạn chịu lửa của hệ tường, vách hoàn chỉnh. Đối với sản phẩm AAC và panel, khả năng chịu lửa của hệ thống còn phụ thuộc vào chiều dày, cấu tạo liên kết, mối nối, lớp hoàn thiện và các vị trí xuyên qua tường.

Do đó, Sông Đà Cao Cường đề nghị giữ nguyên nguyên tắc tuân thủ QCVN 06, đồng thời bổ sung hướng dẫn chứng minh sự phù hợp theo từng đối tượng gồm vật liệu, cấu kiện và bộ phận ngăn cháy. Kết quả thử nghiệm hoặc tính toán chỉ được sử dụng trong phạm vi cấu tạo và điều kiện lắp đặt đã được đánh giá, không mở rộng tùy tiện cho mọi biến thể sản phẩm.

Đối với yêu cầu cách âm tại khoản 2.6.5.2 và Bảng 7, doanh nghiệp cho rằng các chỉ tiêu hiện chưa thể hiện đầy đủ tên, ký hiệu, giới hạn và phương pháp xác định. Đặc biệt, mức cách âm 45 dB đối với tường, vách giữa các căn hộ và một số không gian chung cần được làm rõ về điều kiện thử nghiệm trong phòng thí nghiệm hay tại hiện trường.

Với tường AAC và panel, hiệu quả cách âm thực tế không chỉ phụ thuộc vào vật liệu mà còn liên quan đến khe tiếp giáp, cửa, mối nối và đường truyền âm qua các bộ phận liền kề.

Doanh nghiệp đề nghị bổ sung đầy đủ tên và ký hiệu chỉ số cách âm, giá trị giới hạn, phương pháp xác định; đồng thời phân biệt yêu cầu thử nghiệm trong phòng với đánh giá tại công trình. Việc đánh giá cần xem xét hệ tường hoàn chỉnh và công năng sử dụng của từng không gian.

Về chống thấm, Sông Đà Cao Cường cho rằng không thể chỉ căn cứ vào chỉ tiêu hút nước của từng loại vật liệu để kết luận khả năng chống thấm của toàn bộ hệ tường. Đối với tường AAC, panel kết hợp vữa xây, vữa trát và lớp hoàn thiện, hiệu quả chống thấm còn phụ thuộc vào cấu tạo mối nối, chân tường, vị trí quanh cửa và các lỗ xuyên kỹ thuật.

Do đó, doanh nghiệp đề nghị bổ sung phương pháp đánh giá chống thấm theo hệ bao che hoàn chỉnh và điều kiện sử dụng dự kiến. Đồng thời, cần phân định trách nhiệm giữa nhà sản xuất trong việc cung cấp thông số, hướng dẫn sử dụng; đơn vị thiết kế trong lựa chọn cấu tạo và giải pháp kỹ thuật; nhà thầu trong tổ chức thi công theo hồ sơ được phê duyệt.

Đồng bộ yêu cầu hiệu quả năng lượng và khuyến khích vật liệu tái chế

Đối với yêu cầu về hiệu quả năng lượng, Sông Đà Cao Cường kiến nghị việc đánh giá cần thực hiện ở cấp công trình và cấu tạo vỏ công trình, thay vì phát sinh thêm một loại chứng nhận riêng cho từng sản phẩm vật liệu.

Doanh nghiệp cho biết, thông số nhiệt của AAC và panel phụ thuộc vào điều kiện xác định, khối lượng thể tích và độ ẩm. Vì vậy, thông số do nhà sản xuất cung cấp cần nêu rõ điều kiện thử nghiệm và phạm vi sử dụng trong tính toán thiết kế.

Đáng chú ý, QCVN 04-3:2026/BXD được ban hành theo Thông tư 61/2026/TT-BXD, có hiệu lực từ ngày 1/2/2027. Do đó, dự thảo cần đồng bộ thời điểm áp dụng, quy định chuyển tiếp và làm rõ phạm vi áp dụng đối với công trình xây mới, cải tạo.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp đề nghị bổ sung nguyên tắc khuyến khích sử dụng vật liệu xây không nung, vật liệu tiết kiệm tài nguyên, năng lượng và có thành phần tái chế, với điều kiện đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, an toàn và phù hợp mục đích sử dụng.

Theo Sông Đà Cao Cường, không nên quy định một tỷ lệ bắt buộc chung về sử dụng tro bay hoặc nguyên liệu tái chế khi chưa đánh giá đầy đủ công năng, tính khả thi và khả năng cung ứng. Trường hợp cần quy định tỷ lệ cụ thể, phải xác định rõ phạm vi áp dụng, phương pháp tính và cơ sở pháp lý.

Nhìn chung, các kiến nghị của Sông Đà Cao Cường tập trung vào việc hoàn thiện quy chuẩn theo hướng rõ đối tượng, thống nhất phương pháp đánh giá và phân định trách nhiệm giữa các chủ thể tham gia xây dựng. Qua đó, vừa bảo đảm an toàn, chất lượng công trình, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển, ứng dụng các loại vật liệu mới, vật liệu xanh và vật liệu tái chế.
 

Đức Khôi