(NXD) -
Theo PGS.TS. Đặng Xuân Trường, Ủy viên BCH Tổng hội xây dựng Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật xây dựng TP. Hồ Chí Minh, Trưởng bộ môn Quản lý Hạ tầng đô thị (Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh) cho rằng: “Để thu hút sinh viên trở lại với nhóm ngành Kiến trúc - Xây dựng trong bối cảnh hiện nay, các trường đại học không thể chỉ dựa vào uy tín sẵn có mà cần thực hiện một cuộc "cách mạng" về hình ảnh và nội dung đào tạo…”. ,
PGS.TS. Đặng Xuân Trường phát biểu tại buổi tọa đàm do Tổng hội Xây dựng Việt Nam chủ trì với đại diện các trường đại học có đào tạo ngành Kiến trúc - Xây dựng tại khu vực Phía Nam
“Nghịch lý” trong đào tạo Kiến trúc - Xây dựng
Trong khuôn khổ buổi tọa đàm do Tổng hội Xây dựng Việt Nam chủ trì với đại diện các trường đại học có đào tạo ngành Kiến trúc - Xây dựng tại khu vực Phía Nam, phóng viên Tạp chí Người xây dựng đã có cuộc trao đổi riêng với PGS.TS. Đặng Xuân Trường đến từ Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh.
PV: Thưa PGS.TS. Đặng Xuân Trường! Được biết ông hiện là Chủ nhiệm ngành Quản lý đô thị và công trình, Trưởng Bộ môn Quản lý Hạ tầng đô thị tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh và đã từng có nhiều năm giảng dạy cũng như hoạt động trong ngành Xây dựng, xin ông cho biết hình hình nguồn nhân lực ngành Kiến trúc - Xây dựng tại Việt Nam hiện nay?
PGS.TS. Đặng Xuân Trường: Tình hình nguồn nhân lực ngành Kiến trúc - Xây dựng hiện đang ở giai đoạn "nghịch lý". Khối lượng công việc bùng nổ nhưng lại thiếu hụt nhân sự trầm trọng, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao. Chúng ta có thể phân tích qua một vài con số như sau:
Ngành xây dựng đang đối mặt với "cơn khát" nhân lực lớn nhất trong vòng 5 năm qua do sự mất cân đối cung - cầu. Trong khi số lượng tin tuyển dụng tăng vọt (có thời điểm tăng hơn 170%) nhưng số lượng hồ sơ ứng tuyển lại giảm sâu (khoảng 40%). Điều này dẫn đến tình trạng nhiều nhà thầu phải từ chối dự án vì không đủ nhân lực thực hiện.
Tình trạng "thừa thầy, thiếu thợ": Cơ cấu nhân lực tại Việt Nam hiện nay là 1 (kỹ sư) - 1,3 (trung cấp) - 0,5 (công nhân kỹ thuật). Trong khi đó, tỷ lệ chuẩn thế giới phải là 1- 4 -10. Điều này cho thấy sự thiếu hụt nghiêm trọng lực lượng lao động trực tiếp có tay nghề.
Ngoài ra, chất lượng đào tạo chưa bắt kịp công nghệ: Khoảng 75% lao động ngành xây dựng là lao động thời vụ, chưa qua đào tạo bài bản. Các kỹ sư trẻ dù có bằng cấp nhưng thường thiếu kỹ năng thực tế, đặc biệt là khả năng ứng dụng các công nghệ mới như BIM (Building Information Modeling) hay AI trong quản lý và thiết kế.
PV: Thưa PGS, thực trạng nguồn nhân lực của ngành Quản lý đô thị và công trình hiện nay như thế nào?
PGS.TS. Đặng Xuân Trường: Ngành Quản lý đô thị và Công trình như một "điểm nóng" mới. Đây là ngành học mang tính liên ngành (kỹ thuật, kinh tế, xã hội) đang trở thành tâm điểm do tốc độ đô thị hóa nhanh tại Việt Nam (dự kiến đạt trên 50% vào năm 2030).
Với gần 900 đô thị trên cả nước, nhu cầu về nhân sự quản lý vận hành tòa nhà, quy hoạch hạ tầng thông minh và quản lý công trình đô thị là cực kỳ lớn. Tuy nhiên, nguồn cung nhân lực này vẫn còn rất khan hiếm vì đây là chuyên ngành đào tạo khá mới tại nhiều trường đại học cũng như địa phương. Hiện nay, trong cả nước mới chỉ có khoảng 4 trường đại học đào tạo ngành này ở trình độ đại học.
Các doanh nghiệp hiện nay không chỉ tìm kiếm người biết quản lý hạ tầng truyền thống mà còn yêu cầu năng lực quản trị dữ liệu, vận hành hệ thống IoT và phát triển bền vững. Mức lương cho các vị trí quản lý đô thị hoặc kỹ sư công trình đô thị có trình độ cao hiện đang rất cạnh tranh, dao động từ 15 - 25 triệu VNĐ/tháng đối với nhân sự trẻ và cao hơn nhiều đối với cấp quản lý.
PV: Xin PGS cho biết thêm về những thách thức và cơ hội cho nguồn nhân lực kiến trúc - xây dựng hiện nay?
PGS.TS. Đặng Xuân Trường: Thị trường lao động nói chung hiện nay đang ở giai đoạn cạnh tranh gay gắt từ các ngành dịch vụ, kinh tế, quản trị logistics… khiến lao động dịch chuyển khỏi ngành xây dựng. Các dự án hạ tầng trọng điểm (Sân bay Long Thành, metro, đường cao tốc) đang tạo ra "sân chơi" khổng lồ.
Công nghệ áp lực phải làm chủ AI, Big Data và các phần mềm mô phỏng phức tạp, giúp giảm bớt cường độ lao động chân tay và tăng độ chính xác trong quản lý. Điều kiện làm việc khắc nghiệt, thường xuyên đi công tác xa khiến giới trẻ có xu hướng e dè. Các doanh nghiệp đang cải thiện mạnh mẽ chế độ phúc lợi và môi trường làm việc để giữ chân người tài.
Nhận định hướng phát triển trong giai đoạn 2026 trở đi, nguồn nhân lực sẽ không còn phát triển theo chiều rộng (số lượng) mà chuyển dịch mạnh sang chiều sâu (chất lượng), đồng thời chuyển dần sang dạng chuyên môn hóa. Kỹ sư không chỉ giỏi kỹ thuật mà phải thạo cả quản trị và pháp lý xây dựng. Việc sở hữu các chứng chỉ hành nghề sẽ là "giấy thông hành" bắt buộc để đảm nhận các vị trí chủ chốt trong các dự án lớn. Xu hướng doanh nghiệp "đặt hàng" trực tiếp các trường đại học để đào tạo đúng nhu cầu thực tế sẽ ngày càng phổ biến.

PGS.TS. Đặng Xuân Trường cho rằng: Để thu hút sinh viên trở lại với nhóm ngành Kiến trúc - Xây dựng trong bối cảnh hiện nay, các trường đại học không thể chỉ dựa vào uy tín sẵn có mà cần thực hiện một cuộc "cách mạng" về hình ảnh và nội dung đào tạo.
Điều hành công trình từ xa thay vì đứng nắng gió trên công trường
PV: Để đáp ứng như cầu nhận lực phục vụ xã hội, đồng thời thu hút người học kiến trúc - xây dựng trở lại như giai đoạn trước đây, theo PGS, các cơ sở đào tạo cần làm gì trong giai đoạn hiện nay?
PGS.TS. Đặng Xuân Trường: Để thu hút sinh viên trở lại với nhóm ngành Kiến trúc - Xây dựng trong bối cảnh hiện nay, các trường đại học không thể chỉ dựa vào uy tín sẵn có mà cần thực hiện một cuộc "cách mạng" về hình ảnh và nội dung đào tạo. Dưới đây là vài giải pháp mà theo tôi các trường cần phải triển khai mạnh mẽ trong giai đoạn 2026-2030:
(1) Thay đổi "định vị" ngành nghề từ "vất vả" sang "công nghệ cao". Nỗi e ngại lớn nhất của sinh viên và phụ huynh là việc học ngành kiến trúc - xây dựng hiện đang rất nặng và vất vả cho nhiều sinh viên, cũng như môi trường làm việc khắc nghiệt của ngành xây dựng khi đi làm. Nhà trường cần chứng minh rằng ngành Xây dựng hiện đại đã thay đổi như số hóa đào tạo: Thay vì chỉ học vẽ tay hay tính toán thủ công, chương trình cần đưa BIM (Building Information Modeling), Digital Twin (Bản sao số), và AI vào làm môn học cốt lõi.
Sinh viên sẽ thấy mình giống như những "kỹ sư công nghệ" điều hành công trình từ xa bằng dữ liệu thay vì chỉ đứng nắng gió trên công trường. Kiến trúc xanh và bền vững, nhấn mạnh vào yếu tố nhân văn và trách nhiệm xã hội. Các cuộc thi như "Kiến trúc xanh sinh viên" hay "Đô thị thông minh" giúp sinh viên thấy được ý nghĩa cao đẹp của nghề là cứu vãn môi trường và kiến tạo không gian sống hạnh phúc.

Giảng viên và sinh viên ngành Quản lý đô thị và Công trình (Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP.HCM) tham quan, trải nghiệm Tuyến Metro số 1 (Bến Thành - Suối Tiên) ngày khai trương.
(2) Mô hình đào tạo "Gắn kết thực tế" (Industry-Aligned) Sinh viên ngày nay rất thực tế, họ muốn thấy cơ hội việc làm ngay từ khi còn đi học. Học kỳ doanh nghiệp là một ví dụ. Thay vì chỉ đi thực tập cuối khóa, trường nên phối hợp với các tập đoàn lớn (như Coteccons, BCONS, Hòa Bình, hay các đơn vị quản lý hạ tầng đô thị) để sinh viên có ít nhất 6 tháng - 1 năm làm việc thực tế có hưởng lương. Cam kết đầu ra và Học bổng doanh nghiệp giúp nhà trường liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp trong tài trợ học bổng "đích danh" và ký hợp đồng tuyển dụng ngay từ năm thứ 3.
(3) Đa dạng hóa và linh hoạt hóa chương trình học: Mở các chuyên ngành theo xu hướng mới. Thay vì chỉ có "Xây dựng dân dụng" hay “Kiến trúc dân dụng” chung chung, hãy tách nhỏ thành các chuyên ngành thu hút như Quản lý hạ tầng đô thị thông minh, Kiến trúc đô thị thông minh hay Thiết kế nội thất tích hợp công nghệ Smart-home… Hệ đào tạo cũng cần linh hoạt. Phát triển các hệ đào tạo từ xa hoặc vừa làm vừa học cho người đã đi làm muốn nâng cao hoặc bổ sung bằng cấp, tạo ra một hệ sinh thái học tập suốt đời.
(4) Nâng cao giá trị bằng cấp thông qua Chứng chỉ quốc tế. Nhà trường nên tích hợp việc đào tạo để sinh viên khi ra trường không chỉ có bằng đại học mà còn đủ điều kiện thi các chứng chỉ quốc tế hoặc chứng chỉ hành nghề sớm. Điều này giúp tăng khả năng cạnh tranh về mức lương (dự kiến mức lương nhân sự cao cấp ngành này sẽ tăng mạnh khi các dự án hạ tầng lớn như Đường sắt tốc độ cao, Sân bay Long Thành và nhiều dự án đô thị đồng loạt triển khai). Tổng Hội xây dựng Việt Nam cùng với Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức xét và đề nghị công nhận Kỹ sư Asean hàng năm cũng là một trong những cơ hội để Kỹ sư, Kiến trúc sư sở hữu Chứng chỉ hành nghề Quốc tế có giá trị.
Vâng, xin trân trọng cảm ơn Phó Giáo sư!
Lê Phong (thực hiện)