Hai phương pháp thi công hầm qua núi được sử dụng phổ biến hiện nay là Phương pháp đào hầm mới của Áo (NATM) và công nghệ máy khoan hầm nguyên khối (TBM). Mỗi phương pháp có ưu điểm riêng, phù hợp với điều kiện địa chất và yêu cầu của từng công trình.
                           Hai công nghệ phổ biến trong thi công hầm qua núi

Phương pháp đào hầm mới của Áo (New Austrian Tunnelling Method - NATM) tận dụng khả năng tự chống đỡ của khối đá hoặc đất xung quanh lòng hầm, kết hợp với các giải pháp gia cố để hình thành hệ thống chịu lực chính.

Quy trình thi công thường gồm các bước: khoan, nổ mìn phá đá; xúc dọn đất đá; lắp đặt lưới thép; phun bê tông gia cố; thi công neo giữ địa chất; xử lý chống thấm và đổ vỏ hầm bằng bê tông cốt thép.

Ưu điểm của NATM là chi phí hợp lý, linh hoạt với nhiều điều kiện địa chất phức tạp và có thể rút ngắn tiến độ thi công. Phương pháp này đặc biệt phù hợp với các công trình hầm qua núi có địa chất thay đổi, cần điều chỉnh biện pháp gia cố theo thực tế thi công.

Khác với NATM, công nghệ máy khoan hầm nguyên khối (Tunnel Boring Machine - TBM) sử dụng thiết bị đào hầm có kích thước lớn, dạng hình trụ quay. Máy vừa cắt phá đất đá phía trước, vừa vận chuyển vật liệu đào ra ngoài và lắp ghép các tấm vỏ hầm đúc sẵn ở phía sau.

Nhờ quy trình đào và lắp vỏ hầm được thực hiện liên tục, TBM có ưu điểm về tốc độ thi công, độ chính xác cao và khả năng kiểm soát điều kiện làm việc. Công nghệ này cũng góp phần hạn chế tác động của địa chất yếu, tăng mức độ an toàn cho người lao động.

Tại Việt Nam, các kỹ sư và đơn vị thi công trong nước đã tích lũy nhiều kinh nghiệm, từng bước làm chủ các kỹ thuật đào hầm hiện đại. Hai phương pháp NATM và TBM được nghiên cứu, ứng dụng phù hợp với điều kiện địa chất, quy mô và yêu cầu kỹ thuật của từng dự án.

Nhiều công trình hầm giao thông lớn như hầm Đèo Cả, hầm Cù Mông, hầm Hải Vân 2 và hầm Đèo Ngang đã được triển khai, góp phần nâng cao năng lực thi công hầm qua núi, phục vụ phát triển hệ thống hạ tầng giao thông quốc gia.

Đức Khôi (T/H)