Kinh tế Xây dựng
27/10/2026 11:15Thái Nguyên tăng trưởng kinh tế quý III đứng thứ 2 toàn quốc

Công nghiệp tiếp tục là động lực phát triển của Thái Nguyên
Trong bối cảnh kinh tế thế giới liên tục diễn biến phức tạp, kinh tế trong nước còn đối mặt với nhiều thách thức, tình hình kinh tế - xã hội tại Thái Nguyên vẫn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực với nhiều chỉ tiêu nổi bật.
Tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của tỉnh tăng 11,24%, xếp thứ 6 toàn quốc. Các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm; đời sống nhân dân được bảo đảm; quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,22%, đóng góp 0,63 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 15,63%, đóng góp 7,51 điểm phần trăm riêng ngành công nghiệp tăng 16,49%, đóng góp 7,01 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 8,61%, đóng góp 2,86 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 6,32%, đóng góp 0,24 điểm phần trăm.
Riêng quý III/2026, GRDP của tỉnh ước tăng 13,96% so với cùng kỳ, cao hơn 4,01 điểm phần trăm so với mức tăng 9,95% của cả nước và vượt 2 điểm phần trăm so với kịch bản đề ra. Thái Nguyên đứng thứ 2 trong 34 tỉnh, thành phố về tốc độ tăng trưởng GRDP quý III.

Sản xuất công nghiệp tiếp tục là điểm sáng nổi bật của kinh tế tỉnh Thái Nguyên 9 tháng năm 2026, với mức tăng cao nhất trong 5 năm trở lại đây, giữ vai trò là động lực chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng GRDP của tỉnh. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tiếp tục duy trì mức tăng cao. Ước tính quý III năm 2026, IIP tăng 29,71% so với cùng kỳ năm trước và tăng 8,89% so với quý II. Tính chung 9 tháng đầu năm, IIP tăng 23,23%, trong khi mức tăng chung của cả nước là 12,3% so với cùng kỳ.
Trong các ngành công nghiệp cấp I, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, tăng 23,63%. Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,15%; sản xuất và phân phối điện tăng 6,68%; khai khoáng tăng 1,54%.
Xét theo ngành công nghiệp cấp II, nhiều lĩnh vực ghi nhận mức tăng trưởng cao như sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 24,64%; sản xuất trang phục tăng 21,51%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 17,13%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 11,9%; sản xuất kim loại tăng 11,8%; sản xuất xe có động cơ tăng 11,17%; sản xuất thiết bị điện tăng 10,09%. Đáng chú ý, hoạt động sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị tăng 109,93%.
Duy trì đà tăng trưởng, củng cố động lực phát triển
Trong 9 tháng năm 2026, sản lượng mạch điện tử tích hợp ước đạt 9,7 triệu cái, tăng 112,6% so với cùng kỳ; tai nghe đạt 78,4 triệu cái, tăng 42,1%; máy tính bảng đạt 12,9 triệu cái, tăng 36,5%.
Cùng với đó, sản lượng vonfram và các sản phẩm từ vonfram ước đạt 18 nghìn tấn, tăng 31%; sản phẩm may đạt 111,9 triệu cái, tăng 20,3%; giấy và bìa nhăn đạt 101,7 nghìn tấn, tăng 18%.
Bên cạnh sản xuất công nghiệp, hoạt động thương mại và dịch vụ tiếp tục phục hồi, góp phần mở rộng sức mua và hỗ trợ lưu thông hàng hóa. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng ước đạt 85.257,1 tỷ đồng, tăng 21,4% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 13,4% của cả nước.

Trong đó, bán lẻ hàng hóa đạt 61.477,2 tỷ đồng, tăng 21,1%; dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 8.396 tỷ đồng, tăng 25,3%; du lịch lữ hành đạt 199,3 tỷ đồng, tăng 16,8%; các dịch vụ khác đạt 15.184,6 tỷ đồng, tăng 20,6%.
Hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục đóng góp tích cực vào phát triển sản xuất. Tổng giá trị xuất, nhập khẩu hàng hóa 9 tháng năm 2026 ước đạt 52.065,9 triệu USD, tăng 34% so với cùng kỳ; cán cân thương mại hàng hóa ước thặng dư 8.699,9 triệu USD.
Trong đó, giá trị xuất khẩu hàng hóa ước đạt 30.382,9 triệu USD, tăng 28,2%; nhập khẩu đạt 21.683 triệu USD, tăng 42,9%. Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn, với giá trị xuất khẩu 28.913,9 triệu USD, tăng 25,1%, và nhập khẩu 20.749,5 triệu USD, tăng 40,7%.
Cùng với đà tăng trưởng của sản xuất và thương mại, hoạt động đầu tư phát triển tiếp tục duy trì xu hướng tích cực, khu vực tư nhân và FDI là động lực chính. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trong 9 tháng năm 2026 ước đạt khoảng 60 nghìn tỷ đồng, tăng 14,9% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn đầu tư của khu vực dân cư và tư nhân đạt khoảng 28.000 tỷ đồng, tăng 31,7%; vốn đầu tư FDI ước đạt khoảng 22.600 tỷ đồng, tăng 25,1%.
Từ đầu năm đến nay, Thái Nguyên cấp mới 23 dự án FDI với tổng vốn đăng ký hơn 5,81 tỷ USD. Đồng thời, có 22 dự án điều chỉnh tăng vốn, với tổng vốn đăng ký bổ sung khoảng 2,24 tỷ USD.
Lũy kế đến ngày 10/9, toàn tỉnh giải ngân 5.483,1 tỷ đồng, đạt khoảng 51,9% kế hoạch vốn được giao. Kết quả này đặt ra yêu cầu đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án và giải ngân vốn trong thời gian còn lại của năm.
Theo tính toán của Thống kê tỉnh Thái Nguyên, để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GRDP cả năm ở mức 11%, trong quý IV/2026 tốc độ tăng GRDP phải đạt 10,5%. Đồng thời, cần tập trung huy động mạnh nguồn vốn từ khu vực tư nhân và FDI, đẩy nhanh tiến độ đầu tư công và tháo gỡ khó khăn về mặt bằng, thủ tục nhằm tạo nền tảng vững chắc hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026.