Pháp luật Xây dựng
31/07/2026 07:00Đề xuất dán nhãn năng lượng cho vật liệu xây dựng, lo tăng chi phí cho doanh nghiệp
Bộ Xây dựng đang lấy ý kiến về dự thảo Thông tư quy định việc dán nhãn năng lượng đối với vật liệu xây dựng thuộc phạm vi quản lý, nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
Dự thảo Thông tư được xây dựng trên cơ sở thể chế hóa chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, phát triển công trình xanh, giảm phát thải khí nhà kính và thực hiện cam kết phát thải ròng bằng "0" của Việt Nam.

Đồng thời, Thông tư sẽ cụ thể hóa các quy định của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; Nghị định số 30/2026/NĐ-CP ngày 21/1/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật.
Hiện nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định thống nhất danh mục vật liệu xây dựng phải thực hiện dán nhãn năng lượng.
Vì vậy, dự thảo Thông tư sẽ quy định cụ thể các nhóm sản phẩm phải dán nhãn năng lượng trên cơ sở mức độ ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng năng lượng của công trình, khả năng thử nghiệm và điều kiện thực tế của doanh nghiệp; quy định lộ trình thực hiện theo từng nhóm sản phẩm nhằm bảo đảm tính khả thi, giảm tác động đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Dự thảo Thông tư cũng quy định các chỉ tiêu năng lượng phải công bố đối với từng nhóm vật liệu xây dựng (hệ số dẫn nhiệt, hệ số truyền nhiệt, hệ số thu nhiệt mặt trời, chỉ số phản xạ bức xạ mặt trời...) cùng phương pháp thử tương ứng.
Quy định này nhằm tạo cơ sở thống nhất trong việc đánh giá hiệu quả năng lượng của sản phẩm, bảo đảm tính minh bạch và khả năng so sánh giữa các sản phẩm cùng loại.
Đối với quy định về cơ chế tự công bố và hậu kiểm, dự thảo Thông tư lựa chọn phương thức tự công bố kết quả dán nhãn năng lượng trên cơ sở kết quả thử nghiệm của tổ chức thử nghiệm đáp ứng điều kiện theo quy định.
Doanh nghiệp chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của hồ sơ, kết quả thử nghiệm và thông tin công bố. Cơ quan quản lý nhà nước thực hiện hậu kiểm thông qua kiểm tra định kỳ, đột xuất và lấy mẫu khi cần thiết.
Bên cạnh đó, dự thảo Thông tư còn quy định rõ việc công khai thông tin về nhãn năng lượng thông qua mã QR hoặc địa chỉ tra cứu điện tử; trách nhiệm đăng tải thông tin trên cổng thông tin điện tử của cơ quan quản lý; trách nhiệm của Bộ Xây dựng, Sở Xây dựng, tổ chức thử nghiệm và tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu trong việc thực hiện dán nhãn năng lượng; chế độ báo cáo, công bố lại, đình chỉ hoặc thu hồi hiệu lực công bố khi phát hiện vi phạm.
Theo đánh giá, thông tư có thể tạo ra một công cụ thống nhất để quản lý và công bố thông tin về hiệu quả năng lượng của vật liệu xây dựng, khắc phục tình trạng doanh nghiệp tự công bố bằng các thuật ngữ không thống nhất.
Tuy nhiên việc đề xuất dán nhãn năng lượng cho vật liệu xây dựng, cũng mang đến những lo lắng. Về phía cơ quan quản lý nhà nước, đó là áp lực hệ thống lưu trữ dữ liệu, điều này có thể khiến giai đoạn đầu có thể gây khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện.
Bên cạnh đó, một số chỉ tiêu như hệ số truyền nhiệt, hệ số dẫn nhiệt, hệ số thu nhiệt mặt trời hoặc mức tiêu hao năng lượng theo đơn vị sản phẩm đòi hỏi thiết bị và năng lực thử nghiệm chuyên sâu. Số lượng phòng thử nghiệm trong nước có thể chưa đáp ứng khi áp dụng đồng loạt.
Đối với doanh nghiệp, khi bắt buộc dán nhãn năng lượng sẽ đặt ra thách thức bởi khi đó doanh nghiệp sẽ phải mất thêm chi phí thử nghiệm, chi phí thiết kế, in và quản lý nhãn, chi phí kiểm tra định kỳ, chi phí thay đổi bao bì; chi phí đầu tư nâng cấp công nghệ. Doanh nghiệp có thể đồng thời phải thực hiện: nhãn năng lượng; nhãn sinh thái; chứng nhận vật liệu xanh; EPD; công bố dấu chân các-bon; chứng nhận hợp quy. Sự chồng chéo làm tăng chi phí và gây khó hiểu cho thị trường.
Những tác động có thể lớn hơn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp sản xuất sản lượng thấp hoặc sản phẩm có nhiều quy cách.
Một băn khoăn khác, với người dân và người tiêu dùng theo dự thảo thông tư doanh nghiệp được sử dụng nhãn chỉ dựa trên hồ sơ tự kê khai, thiếu kiểm chứng hoặc kiểm tra thị trường, nhãn có thể trở thành công cụ quảng cáo hơn là công cụ quản lý. Khi đó Người tiêu dùng đối mặt với nguy cơ mua phải sản phẩm lỗi trong khoảng thời gian "trễ" trước khi cơ quan quản lý thực hiện hoạt động kiểm tra và ra quyết định thu hồi.