Pháp luật Xây dựng
15/09/2026 19:33Quy định mới về thực hiện dự án đường sắt
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc thay mặt Chính phủ ký ban hành Nghị định 352/2026/NĐ-CP ngày 11/9/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của hai nghị định liên quan đến thiết kế kỹ thuật tổng thể và cơ chế đặc thù cho các dự án đường sắt.
Đáng chú ý, Nghị định sửa đổi Điều 4 Nghị định 123/2025/NĐ-CP, bổ sung nhiều quy định về nguyên tắc, tổ chức thực hiện dự án; đồng thời sửa đổi quy trình thẩm định, quyết định đầu tư dự án đường sắt.

Bổ sung nguyên tắc thực hiện dự án đường sắt
Theo Nghị định 352/2026/NĐ-CP, việc khảo sát, lập, thẩm định, phê duyệt dự án, thiết kế xây dựng, quản lý năng lực, chi phí đầu tư xây dựng, lựa chọn nhà thầu, quản lý hợp đồng và kiện toàn Ban quản lý dự án chuyên ngành thực hiện theo các cơ chế, chính sách đặc thù quy định tại Nghị định.
Những nội dung chưa được quy định cụ thể sẽ thực hiện theo pháp luật về quản lý hoạt động xây dựng, quản lý hợp đồng xây dựng và các quy định pháp luật có liên quan.
Trong quá trình triển khai các dự án thuộc Chương II và Chương III, Bộ Xây dựng được quy định, hướng dẫn riêng về quản lý chi phí đầu tư xây dựng, định mức và giá xây dựng theo đặc thù dự án khi cần thiết.
Đối với dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam thực hiện theo hình thức đầu tư công, việc lập, thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi và phê duyệt dự án áp dụng theo Nghị quyết 172/2024/QH15. Trường hợp dự án thành phần được quyết định đầu tư theo phương thức đối tác công tư hoặc hình thức đầu tư kinh doanh, các bước thực hiện tuân thủ quy định của Chính phủ về quản lý hoạt động xây dựng, chi phí đầu tư xây dựng, hợp đồng xây dựng và pháp luật liên quan.
Nghị định cũng yêu cầu việc lập, thẩm định, phê duyệt dự án, thiết kế xây dựng, lựa chọn nhà thầu và quản lý hợp đồng phải bảo đảm công khai, minh bạch; tuân thủ quy định về phòng, chống tham nhũng, lãng phí và tiêu cực.
Việc áp dụng mô hình thông tin công trình (BIM) do người quyết định đầu tư quyết định, phù hợp với đặc thù từng dự án. Nghị định khuyến khích tích hợp dữ liệu từ hệ thống thông tin địa lý (GIS), hệ thống quản lý tài sản (AIM), bản sao kỹ thuật số song sinh (Digital Twin), mô phỏng và đánh giá phương án, quản lý vận hành dự án.
Các công nghệ hiện đại, công nghệ số trong khảo sát, thiết kế và xây dựng cũng được khuyến khích áp dụng.
Việc khai thác, sử dụng và chia sẻ dữ liệu BIM, GIS, AIM, Digital Twin phải bảo đảm yêu cầu về an toàn thông tin, an ninh mạng, bảo vệ bí mật nhà nước và tuân thủ quy định pháp luật về quốc phòng, an ninh.
Cho phép triển khai song song các công việc
Đối với dự án sử dụng thiết kế FEED thay thiết kế cơ sở trong Báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế xây dựng được thực hiện theo trình tự hai bước, gồm thiết kế FEED và thiết kế xây dựng triển khai sau FEED. Bước thiết kế sau FEED có thể là thiết kế chi tiết theo thông lệ quốc tế hoặc thiết kế bản vẽ thi công, bảo đảm các yêu cầu kỹ thuật và tiêu chuẩn áp dụng.
Nghị định cho phép dự án thực hiện song song, đồng thời hoặc kết hợp các nội dung công việc nhằm đẩy nhanh tiến độ. Tuy nhiên, các công việc phải bảo đảm thứ tự hoàn thành và tính thống nhất của toàn dự án.
Trường hợp phát sinh chi phí cần thiết do việc triển khai song song, cơ quan chuẩn bị dự án hoặc chủ đầu tư báo cáo người quyết định đầu tư xem xét, quyết định bổ sung. Thời hạn xem xét, quyết định là 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo.

Việc lập Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án đường sắt, quy hoạch vùng phụ cận nhà ga và quy hoạch khu vực phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) đối với đường sắt đô thị phải được phối hợp chặt chẽ, bảo đảm kết nối không gian và giao thông hợp lý.
Nếu triển khai thiết kế FEED dẫn đến điều chỉnh ranh giới nhà ga, chủ đầu tư phải thông báo kịp thời cho cơ quan, tổ chức lập quy hoạch vùng phụ cận ga và quy hoạch TOD để cập nhật, điều chỉnh tương ứng.
Nghị định cho phép thuê tư vấn nước ngoài thực hiện các công việc hỗ trợ chuẩn bị, quản lý dự án, lập và thẩm tra Báo cáo nghiên cứu khả thi, giám sát thi công, đánh giá an toàn hệ thống, tư vấn pháp lý và một số công việc khác theo quyết định của người có thẩm quyền.
Đối với các hoạt động được thực hiện trước theo Nghị quyết 172/2024/QH15 và Nghị quyết 188/2025/QH15, chủ đầu tư hoặc cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ phải tổ chức lập, thẩm định và phê duyệt dự toán chi phí.
Chi phí quản lý dự án, bao gồm chi phí xây dựng trụ sở, văn phòng hiện trường, mua sắm phương tiện và các chi phí quản lý khác, được xác định bằng dự toán phù hợp với nhiệm vụ, phạm vi và nội dung công việc. Các khoản chi phí này được ứng trước từ chi phí quản lý dự án.
Ngoài ra, các dự án đang triển khai thuộc danh mục áp dụng cơ chế đặc thù, đặc biệt tại Nghị quyết 188/2025/QH15 được sử dụng vốn đối ứng để tiếp tục thực hiện công việc trong trường hợp có yêu cầu thay đổi; được sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài để đáp ứng tiến độ dự án. Thủ tục về nguồn vốn và điều chỉnh dự án thực hiện theo pháp luật có liên quan.
Đối với dự án thuộc danh mục dự án trọng yếu có yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh, Bộ Quốc phòng và Bộ Công an phải có ý kiến thống nhất về việc bảo đảm quốc phòng, an ninh trước khi phê duyệt.
Hồ sơ, trình tự, thủ tục quyết định chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác thực hiện theo quy định đối với dự án thuộc thẩm quyền của HĐND cấp tỉnh theo pháp luật về lâm nghiệp.
Quy định mới về hồ sơ và quy trình thẩm định
Nghị định 352/2026/NĐ-CP sửa đổi Điều 17 Nghị định 123/2025/NĐ-CP về hồ sơ, trình tự thẩm định và quyết định đầu tư dự án.
Theo đó, chủ đầu tư gửi hồ sơ đến cơ quan thường trực Hội đồng thẩm định để tổ chức thẩm định. Hồ sơ được gửi trực tuyến qua hệ thống quản lý văn bản của Bộ Xây dựng, gửi trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính.
Hội đồng thẩm định thực hiện thẩm định các nội dung theo Điều 18 Nghị định và ban hành Thông báo kết quả thẩm định trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.
Sau khi hoàn thiện tổng mức đầu tư xây dựng theo yêu cầu tại Thông báo kết quả thẩm định, chủ đầu tư gửi hồ sơ đến Kiểm toán nhà nước để thực hiện kiểm toán, làm cơ sở phê duyệt dự án.
Kiểm toán nhà nước có trách nhiệm ban hành kết quả kiểm toán trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị kiểm toán.
Trên cơ sở yêu cầu của Hội đồng thẩm định và Kiểm toán nhà nước (nếu có), chủ đầu tư hoàn thiện toàn bộ hồ sơ dự án, gửi cơ quan thường trực Hội đồng thẩm định tổng hợp, trình người quyết định đầu tư xem xét, quyết định.
Nghị định 352/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày ký ban hành, 11/9/2026.
Đối với dự án đầu tư xây dựng công trình đường sắt đã được phê duyệt trước ngày Nghị định có hiệu lực, không phải phê duyệt lại. Các công việc tiếp theo thực hiện theo quy định mới.
Đối với dự án đã trình thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh trước ngày Nghị định có hiệu lực, nếu đủ điều kiện thẩm định nhưng chưa có thông báo kết quả, việc thẩm định, phê duyệt tiếp tục thực hiện theo Nghị định 123/2025/NĐ-CP và Nghị định 67/2026/NĐ-CP. Các công việc tiếp theo thực hiện theo Nghị định 352/2026/NĐ-CP.
Trường hợp hồ sơ không đủ điều kiện thẩm định hoặc kết quả thẩm định xác định chưa đủ điều kiện để tổng hợp, trình phê duyệt, việc thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi thực hiện theo quy định của Nghị định mới.
Hồ sơ trình thẩm định gồm:
Tờ trình.
Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng.
Báo cáo kết quả thẩm tra Báo cáo nghiên cứu khả thi của nhà thầu tư vấn thẩm tra.
Văn bản chấp thuận của người quyết định đầu tư về Báo cáo giữa kỳ.
Nghị quyết của Quốc hội về chủ trương đầu tư dự án.
Các tài liệu liên quan khác (nếu có).