Pháp luật Xây dựng
04/09/2026 07:02Bộ Xây dựng đề xuất 6 nhóm chính sách, xây dựng Luật Vật liệu xây dựng
Pháp luật điều chỉnh từng khâu nhưng thiếu cơ chế kết nối
Theo Tờ trình, lĩnh vực vật liệu xây dựng (VLXD) hiện chịu sự điều chỉnh của nhiều luật, trong đó có Luật Xây dựng số 135/2025/QH15, Luật Địa chất và khoáng sản số 54/2024/QH15, Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, Luật Quy hoạch số 112/2025/QH15, Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 cùng các quy định về đất đai, thuế, tín dụng, năng lượng, khoa học, công nghệ và quản lý ngoại thương.

Các quy định hiện hành đã điều chỉnh từng công đoạn, song chưa hình thành cơ chế kết nối xuyên suốt chuỗi VLXD, từ chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển đến nguồn nguyên liệu, sản xuất, lưu thông, sử dụng trong công trình, thu hồi và tái chế.
Sau khi quy hoạch sản phẩm bị bãi bỏ, pháp luật chưa xác định đầy đủ vị trí và mối quan hệ giữa Chiến lược phát triển VLXD, nội dung phát triển VLXD trong hệ thống quy hoạch và Kế hoạch phát triển VLXD của địa phương. Trong khi đó, cơ chế dự báo, cảnh báo, theo dõi cung - cầu chưa được quy định ổn định ở cấp luật, đặt ra yêu cầu phải quản lý thị trường nhưng không quay lại cơ chế ấn định công suất, sản lượng.
Đối với vật liệu mới, vật liệu xanh, vật liệu tái chế, vật liệu tiết kiệm năng lượng, sử dụng nguyên liệu thứ cấp và phát thải thấp, các chính sách đã được đề cập tại nhiều văn bản nhưng chưa được hệ thống hóa thành một khung pháp lý chuyên ngành. Chuỗi từ nghiên cứu, sản xuất thử, thử nghiệm, tiêu chuẩn hóa đến chuyển giao và thương mại hóa cũng chưa được kết nối rõ với các chính sách hỗ trợ hiện hành.
Trong khi đó, Luật Địa chất và khoáng sản đã điều chỉnh hoạt động điều tra, quy hoạch, thăm dò và khai thác khoáng sản nhưng chưa giải quyết đầy đủ các vấn đề liên quan đến chế biến, lựa chọn, sử dụng nguyên liệu theo cấp chất lượng và phát triển thị trường nguyên liệu phục vụ sản xuất VLXD.
Thực tế cho thấy, tại một số thời điểm, thị trường xuất hiện tình trạng thiếu cục bộ cát, đá, vật liệu san lấp khi nhiều dự án hạ tầng được triển khai đồng thời. Nguồn cung phụ thuộc vào khả năng điều phối giữa các địa phương, giá biến động, trong khi hoạt động điều tra, quy hoạch, cấp phép và huy động nguồn vật liệu có độ trễ so với nhu cầu thực tế.
Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm VLXD vẫn còn dư địa công suất lớn nhưng hiệu quả khai thác và thị trường tiêu thụ chưa ổn định.
Nguy cơ chồng chéo trong kiểm tra, thử nghiệm
Theo Bộ Xây dựng, quy định về VLXD với tư cách là sản phẩm, hàng hóa và quy định về vật liệu đưa vào công trình hiện được điều chỉnh bởi các hệ thống pháp luật khác nhau.
Việc kế thừa kết quả thử nghiệm, chứng nhận, đánh giá sự phù hợp và dữ liệu chất lượng chưa có nguyên tắc chuyên ngành rõ ràng. Điều này có thể dẫn tới tình trạng kiểm tra, thử nghiệm và yêu cầu cung cấp hồ sơ trùng lặp.
Một số loại vật liệu như cát nghiền, cát biển, chất nạo vét, đất đá thải mỏ, quặng đuôi và nguyên liệu thay thế vẫn thiếu tiêu chuẩn, định mức hoặc hướng dẫn kỹ thuật. Ranh giới chuyển tiếp từ chất thải, phế thải, phụ phẩm và vật liệu thu hồi sang nguyên liệu hoặc sản phẩm VLXD cũng chưa được làm rõ.
Bên cạnh đó, dữ liệu về năng lực sản xuất, sản lượng, nguyên liệu, chất lượng, giá cả và nhu cầu còn phân tán. Năng lực chuyển đổi số và hậu kiểm giữa các địa phương chưa đồng đều, trong khi chưa hình thành hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu VLXD dùng chung.

Đề xuất 6 nhóm chính sách
Từ những bất cập trên, Bộ Xây dựng đề xuất 6 nhóm chính sách để xây dựng khung pháp lý đồng bộ cho lĩnh vực VLXD.
Thứ nhất, hoàn thiện công cụ chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển VLXD.
Dự án Luật dự kiến xác định rõ vị trí, chức năng và mối quan hệ giữa ba công cụ này. Chiến lược và kế hoạch được sử dụng để định hướng, dự báo và tổ chức thực hiện, không trở thành điều kiện chấp thuận đầu tư và không được sử dụng để ấn định công suất, sản lượng.
Đối với một số ngành vật liệu nền tảng, cơ quan soạn thảo tiếp tục nghiên cứu công cụ quy hoạch phù hợp theo Luật Quy hoạch, bảo đảm sự liên kết giữa vùng nguyên liệu, cơ sở sản xuất, năng lượng, hạ tầng, logistics và thị trường. Việc này không nhằm khôi phục quy hoạch sản phẩm hàng hóa trước năm 2019.
Thứ hai, hoàn thiện chính sách phát triển VLXD theo hướng đổi mới công nghệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên, năng lượng và thúc đẩy vật liệu xanh.
Các nhóm vật liệu được khuyến khích phát triển gồm vật liệu mới, vật liệu xanh, vật liệu tái chế, vật liệu nhẹ, vật liệu thông minh, vật liệu tiết kiệm tài nguyên - năng lượng, sử dụng nguyên liệu thứ cấp và vật liệu có tính năng đặc thù.
Hoạt động nghiên cứu, sản xuất thử, thử nghiệm, tiêu chuẩn hóa, chuyển giao và thương mại hóa được kết nối với các chính sách hiện hành về đầu tư, thuế, tín dụng, đất đai, khoa học, công nghệ và môi trường. Dự án Luật không đặt ra việc thành lập quỹ hoặc tạo thủ tục xác nhận ưu đãi, điều kiện đầu tư kinh doanh riêng.
Thứ ba, hoàn thiện cơ chế quản lý chế biến, sử dụng nguyên liệu và bảo đảm an ninh nguồn cung VLXD.
Pháp luật về địa chất và khoáng sản tiếp tục điều chỉnh hoạt động điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác và thu hồi khoáng sản. Luật VLXD sẽ tập trung vào khâu chế biến, lựa chọn, sử dụng và phát triển thị trường nguyên liệu sau khi nguồn nguyên liệu được hình thành hợp pháp.
Doanh nghiệp được chủ động lựa chọn, mua bán, nhập khẩu và đa dạng hóa nguồn nguyên liệu. Cơ chế dự báo sẽ tập trung theo dõi nhu cầu của các dự án trọng điểm, nguồn cung hợp pháp, công suất khai thác, sản lượng, giá và khả năng vận chuyển, thay vì phân bổ hành chính nguồn vật liệu.
Thứ tư, hoàn thiện quy định về sử dụng VLXD trong công trình.
Vật liệu đưa vào công trình phải phù hợp với thiết kế, chỉ dẫn kỹ thuật, tiêu chuẩn, quy chuẩn và các yêu cầu về chất lượng, an toàn, độ bền, công năng và môi trường.
Các kết quả chứng nhận, thử nghiệm, kiểm định, công bố hợp quy và dữ liệu chất lượng được sử dụng lại khi còn phù hợp. Việc kiểm tra bổ sung chỉ thực hiện khi có căn cứ về rủi ro, thay đổi điều kiện sử dụng, yêu cầu kỹ thuật đặc thù hoặc dấu hiệu không phù hợp.
Chính sách cũng hướng tới tạo hành lang kỹ thuật cho vật liệu mới, vật liệu tái chế, đồng thời cho phép lựa chọn vật liệu dựa trên hiệu quả kinh tế - kỹ thuật và chi phí trong toàn bộ vòng đời công trình.
Thứ năm, thúc đẩy thu hồi, tái chế chất thải làm nguyên liệu sản xuất VLXD.
Đất, đá, bùn thải xây dựng, đất đá thải mỏ, quặng đuôi, tro, xỉ, thạch cao, xỉ luyện kim và các nguồn phù hợp có thể được tái chế hoặc sử dụng làm nguyên liệu khi đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng, an toàn và môi trường.
Các thủ tục liên quan đến phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải tiếp tục thực hiện theo pháp luật chuyên ngành, không hình thành một quy trình quản lý chất thải song song.
Thứ sáu, đẩy mạnh quản lý nhà nước, chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu VLXD.
Cơ sở dữ liệu dùng chung dự kiến bao gồm thông tin về năng lực sản xuất, sản lượng, nguyên liệu, chất lượng, tiêu chuẩn áp dụng, giá, cung - cầu, thị trường và các nhóm vật liệu mới, vật liệu xanh, vật liệu tái chế.
Hệ thống này được kết nối với các cơ sở dữ liệu về xây dựng, địa chất và khoáng sản, môi trường, doanh nghiệp, đầu tư và hải quan. Tổ chức, doanh nghiệp không phải cung cấp lại những thông tin mà cơ quan nhà nước đã có và được quyền khai thác dữ liệu theo quy định.
Đáng chú ý, phân tích dữ liệu và trí tuệ nhân tạo được đề xuất ứng dụng trong dự báo cung - cầu, theo dõi giá, truy xuất nguồn gốc và kiểm tra theo mức độ rủi ro.
Theo kế hoạch, Bộ Xây dựng dự kiến báo cáo kết quả nghiên cứu đến Bộ Tư pháp trước ngày 31/12/2026. Chính phủ sẽ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước ngày 15/01/2027. Dự án Luật dự kiến được đưa vào Chương trình lập pháp năm 2027.